CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC THẦN DIỆU CHỮA DỨT MỌI TÂM BỆNH CỦA CHÚNG SANH!

Thư viện Chánh Pháp / Tác phẩm mới / 19 Trung Giang

, Chủ Nhật 22-04-2012

 

 

 

Trung Giang Ký Sự – kỳ 19

 

Hành Vân

 

 

Sáng ngày 22 tháng 3, quý hòa thượng và chư Tăng giáo đoàn III tập trung về Tịnh xá Trung Tâm để chiều cùng đi với các giáo đoàn xuống Mỹ Tho tham dự khóa tu truyền thống lần thứ VII của Hệ phái. Được biết quý ngài đoàn II đã tập trung bên Ngọc Đăng, tôi tranh thủ qua gặp hòa thượng Giác Thanh và các thượng tọa để tìm hiểu về sự hình thành và phát triển của Giáo đoàn II Phật giáo Khất Sĩ.

 

 Tôi qua đến nơi lúc 7 giờ. Khi tôi đi vào gần cầu thang chánh điện thì thấy quý sư đang quấn y. Đại đức Giác Ngạn thấy tôi từ xa, đại đức lại nắm tay hỏi thăm tôi đến có việc gì? Biết được mục đích, đại đức chỉ cho tôi phòng của hòa thượng. Tôi không vội vào mà đợi thượng tọa Giác Minh và quý sư bắt đầu khởi hành đi hóa duyên để chụp một vài cảnh…

 

 

 

Quý sư kỉnh xá Phật, Tổ và đức Thầy trước đi khất thực hóa duyên

 

 

Một bát cơm ngàn nhà

Thân chơi muôn dặm xa…

 

Từ ngàn xưa, chư Phật đã sáng lập ra mẫu người khất sĩ, một hạng người có lối sống bình dị trong xã hội, và các bậc Đại từ Đại bi ấy đã trao truyền lối sống cao thượng đó cho những ai có tâm trí dũng đại hùng đại lực. Đến thời nay, lối sống đó đã được khơi lại và phổ cập nhân gian là do công đức của đức Tổ sư Minh Đăng Quang và các bậc tiền bối khác...

 

Khi đoàn khất sĩ đã đi ra khỏi cổng, tôi vào phòng hòa thượng Giác Thanh kỉnh lễ ngài và xin được phỏng vấn. Hòa thượng vội vàng cản tôi, bảo rằng ngài cần phải bàn bạc với quý sư trong đoàn đã, rằng những việc này tôi nên hỏi vị thư ký giáo đoàn… Tôi thưa là cách nhìn nhận và xử lý thông tin của tôi khác với cách làm của những sư trước, tức là tôi sưu tầm mọi thông tin có giá trị chứ không phải chỉ lấy những thông tin đã được kiểm duyệt… Nhưng hòa thượng vẫn ngại, ngài không cho tôi thu âm, và chỉ đồng ý trò chuyện hỏi thăm.

 

Không thể làm gì hơn, tôi hỏi thăm hòa thượng về tên vị sáng lập Giáo đoàn II, về các vị tri sự và địa bàn hoạt động của giáo đoàn. Qua những lời đáp của hòa thượng, tôi lại được biết thêm về đặc điểm hoạt động của giáo đoàn khất sĩ này.

 

Tôi ngồi trong phòng hòa thượng khoảng nửa tiếng thì quý sư đi bát về. Sau khi cất bát, giải y, thượng tọa Minh cũng vào phòng ngồi chơi. Tôi còn định đặt thêm một số vấn đề thì có mấy cuộc điện thoại, đành phải xin phép hòa thượng dừng cuộc nói chuyện để ra ngoài nghe. Nói điện thoại xong thì việc đã lỡ cỡ rồi, thôi tôi đi chụp hình chánh điện và bảo tháp, sau đó lên phòng sư Giác Phước tìm hình cũ xin chụp lại.

 

 

 

Tịnh xá Ngọc Đăng, đường Bùi Đình Túy, Q. Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh.

 

 

Đại đức Giác Phước pha trà mời tôi và sư Minh Giai uống. Chúng tôi ngồi chơi một lát thì có thượng tọa Giác Mẫn và thượng tọa Giác Minh lên. Qua những câu chuyện bên bàn trà hôm đó, tôi đã tạm hình dung được Giáo đoàn II đã phát triển mạnh mẽ trước Giải phóng như thế nào.

 

Từ tháng 8 năm 1948 ngài Giác Tịnh đã xuất gia theo Tổ sư Minh Đăng Quang. Trong một lần sư Giác Tịnh đi bát, có chú Huệ Ngạn đi sau. Trời đã trưa, nắng gắt, không ai cúng dường, mà chú Huệ Ngạn lại ở phía sau chỉ đường quanh co, sư Giác Tịnh bực mình quay đầu gắt: “Ông coi chừng tui!...”. Chỉ một câu đó mà Tổ sư đã cho Giác Tịnh “về nhà phụng dưỡng bà nội”. Một thời gian sau, thấy nhân duyên thích hợp, Tổ sư kêu ngài Giác Tánh đi gọi Giác Tịnh về. Vậy nên ngài Giác Tịnh mới thành sư đệ của ngài Giác Tánh, rồi thọ giới Tỳ-kheo sau cả các ngài Giác Chánh, Giác Như...

 

Năm 1954, sau khi đức Tổ sư Minh Đăng Quang bị bắt, có 8 vị sư vào tù tìm thầy và đã bị giam 96 ngày [1] kể cả ngày bị bắt (nếu tính bình thường thì chỉ có 95 ngày thôi). Khi 8 vị sư đó đã về lại với giáo hội, một lần, sư Giác Tịnh đã rủ sư Giác Tôn ra miền Trung hành đạo. Nghe sư huynh rủ, Giác Tôn đồng ý nhưng bàn là để qua Tự tứ hãy đi, vì từ Tự tứ này đến Tự tứ sau dài tới 1 năm, đi được lâu hơn. Bàn xong rồi, đến tháng 8 âm lịch năm 1954 sư Giác Tịnh ra miền Trung trước, qua năm 1955 sư Giác Tôn ra theo, từ đó mở ra thêm một nhánh Khất Sĩ. Như vậy, chính ngài Giác Tịnh đã tách đoàn trước chứ không phải là Pháp sư Giác Nhiên.

 

Khi ra miền Trung xa xôi, ngài Giác Tịnh 26 tuổi và Giác Tôn mới 24 tuổi (năm 1955). Bấy giờ, mối Đạo Khất Sĩ còn quá xa lạ với Phật giáo và người dân miền Trung. Ý chí nào, tâm lực nào đã thúc đẩy 2 huynh đệ dũng tiến? Ngài Giác Tịnh và các huynh đệ đã nỗ lực tinh tấn tu hành, qua đó đem lại cho người miền Trung hình ảnh chư Tăng Khất Sĩ y bát chơn truyền như Phật thuở xưa. Đến năm 1956 có thêm Trưởng lão Giác Tánh và Thầy An cùng trụ lại miền Trung, lần lượt quý ngài đã thành lập được các tịnh xá Ngọc Nhơn, Ngọc Cát, Ngọc Pháp, Ngọc Hội… trên giải đất duyên hải miền Trung Việt Nam.

 

 

 

Đức Thầy Tịnh ngày còn trẻ

(Không rõ ngày xưa dùng bút gì tô cho y có màu vàng? Tô lem cả cổ, ngực, cánh tay…)

 

 

Tháng 5 năm 1956, Đoàn Du Tăng Khất Sĩ Việt Nam hành đạo ra miền Trung lần thứ nhất. Lần thứ hai Đoàn ra miền Trung vào tháng 3 năm 1957, lần thứ ba vào tháng 5 năm 1958, và lần thứ tư vào tháng 4 năm 1961. Ngoài bốn chuyến du hành ra đến tận cầu Hiền Lương – sông Bến Hải, nơi chia cắt hai miền Nam, Bắc của đất nước; lại lên đến tận đô thị Đà Lạt và Buôn Ma Thuột ở Cao nguyên, Đoàn Du Tăng Khất Sĩ Việt Nam đa phần tập trung hành đạo tại địa bàn miền Đông và miền Tây Nam Bộ, để miền Trung và Cao nguyên cho các ngài Giác Tánh, Giác Tịnh, Giác Tôn, Giác Lương, Giác An và Giác Hội... hoạt động.

 

Khoảng 10 năm ở miền Trung, Thầy Tịnh đã lập được một giáo đoàn Khất Sĩ mạnh. Khi về miền Nam dự Tứ tứ Tăng, trong quý sư có ý dị nghị rằng đoàn của Thượng tọa Giác Chánh là giáo hội chánh, các đoàn Thầy Tịnh, Thầy An, Pháp sư Nhiên và Thầy Lý là giáo hội nhánh. Từ tư tưởng đó, có lần quý sư đã sắp các sư của giáo hội nhánh ngồi cúng phía sau, chứ không kể bình đẳng theo hạ lạp. Thấy tình hình không tiện, Thầy Tịnh mới bàn với chư Tăng trong đoàn kế hoạch lập một tịnh xá ở miền Nam để có chỗ cho chư Tăng trong đoàn sinh hoạt. Trong khi chưa lập được tịnh xá, Thầy Tịnh được bên Ni cho mượn Tịnh xá Ngọc Đức ở Thủ Đức để sử dụng. Đáp lại, Thầy Tịnh cho bên Ni sử dụng Tịnh xá Ngọc Kỳ ở Tam Kỳ. Sau đó, năm 1965 Thầy Tịnh lập được Tịnh xá Ngọc Đăng ở Đồng Ông Cộ, tỉnh Gia Định, nay là quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Lập được Ngọc Đăng, Thầy Tịnh đã trả lại Ngọc Đức cho bên Ni...

 

Đoàn Thầy Tịnh có một nét đặc biệt là có 2 nhóm Tăng. Thời Tổ sư Minh Đăng Quang lãnh đạo Giáo hội Tăng-già Khất Sĩ, ngài đã không cho chư Tăng khất sĩ đi học, nếu đi học phải gác y mặc áo. Áp dụng đường lối của Tổ sư, Thầy Tịnh đãcho Tăng đi học nhiều, dĩ nhiên hàng học Tăng đều phải mặc áo, không được mặc y khất sĩ, tức là không có giới phẩm Sa-di, Tỳ-kheo. Do đó, trong đoàn của Thầy Tịnh đã có 2 nhóm Tăng: Tăng khất sĩ và học Tăng. Tăng khất sĩ chuyên hành đạo y bát chơn truyền, còn học Tăng thì chuyên học văn hóa và Phật học để đem tài học phục vụ lại cho giáo hội… Số lượng học Tăng trong đoàn không phải ít. Như vào cuối thập niên 1960, đoàn Thầy Tịnh có hơn 70 Tăng, thì trong đó đã có 30 vị là học Tăng. Trong số đó, có một vị đã tốt nghiệp Cử nhân tại trường Đại học Vạn Hạnh là sư Thích Giác Nghi, tốt nghiệp cử nhân năm 1974. Có thể nói sư là vị cử nhân Phật học đầu tiên được giáo hội Phật giáo Khất Sĩ đào tạo. Tốt nghiệp cử nhân xong sư đã học tiếp lên Thạc sĩ và đã phải dở dang vì Giải phóng…

 

 

 

Thích Giác Nghi, vị Cử nhân Phật học đầu tiên của Phật giáo Khất Sĩ

Hình chụp kỷ niệm trong ngày Lễ Tốt Nghiệp tại Đại học Vạn Hạnh – Sài Gòn.

 

 

Buổi trưa, mọi người cúng Ngọ trong giảng đường. Lúc tôi theo sư Phước xuống thì thấy bát đã được sắp trên bàn. Những cái bàn này thấp khoảng 2 tấc rưỡi, rộng 6 tấc và dài 1,2m. Cách sắp bát, đồ ăn, thố canh và ly nước cũng như cũ, chỉ khác ở chỗ được đặt hết trên bàn, cao hơn tấm chiếu lót ngồi. Nghe nói cách thức này là do hòa thượng Giác Thường đã làm sau khi đi Miến Điện về. Vì vấn đề vệ sinh và vì vẽ mỹ quan mà thiết trí bữa cúng Ngọ như thế thì cũng đúng. Bởi vì ở các tịnh xá, những tấm chiếu thường dùng để ngồi ăn lại bày chung cả đồ ăn trên đó trông có vẻ dơ và thiếu thẩm mỹ. Như tại Tịnh xá Trung Tâm, trên các tấm chiếu được trải phủ dài thêm một tấm simili có ô vuông. Tấm simili này được lau hàng ngày, thêm màu sáng nên trông đỡ dơ hơn mấy cái chiếu màu ngà và ít được giặt. Ngoài ra, các tấm simili này còn một công dụng nữa là dễ sắp bát đều và thẳng theo những ô của nó. Tuy vậy, khi đồ ăn còn đặt sát đất thì dễ có những thứ linh tinh bay vào. Nên quý sư cô các nơi lại mất công dùng thêm nilon bịt miệng tô, chén…

 

Hôm trước Tết ghé thăm Tịnh xá Ngọc Thiền ở Đak Nông tôi đã thấy ở đó dùng bàn thấp để cúng Ngọ rồi. Khi đó vô tâm, nhưng bây giờ thấy cảnh này ở Ngọc Đăng tôi mới chú ý. Ngoài 2 điều vệ sinh và mỹ quan đã nói trên, có 1 điều tôi thấy bất tiện là bát để cố định nên không kết hợp được với cái muỗng uyển chuyển, khi múc cơm ăn cứ thấy cứng cứng tay làm sao… Vì bát đã để cố định trên bàn, nên người ăn phải ngồi sát hay khom người tới mới vét muỗng được. Còn khi ôm bát trong tay, tay linh hoạt xoay tròn bát sẽ khớp với cái muỗng, dễ vét cơm và đồ ăn hơn. Vậy thay vì dùng bàn thế này, tôi nghĩ nên dùng mâm gỗ dài rộng 7 x 4 tấc, có chân cao khoảng 5 phân, vành mâm cao thêm 5 phân. Mâm dài 7 tấc vừa bằng chỗ một nhà sư ngồi, rộng 4 tấc vừa đủ để bát và ly nước phía trước, hai bên bát còn chỗ để các thứ linh tinh. Như thế thì bát sắp đẹp và vệ sinh hơn, đến khi thọ trai sẽ ôm bát ra để sát chân, tiện dụng...

 

Tôi theo sư Phước vào trai đường, đứng vào vị trí của mình, nơi sắp cái bát đã được quý sư cho mượn. Khi hòa thượng lên, mọi người hướng về tượng Tổ sư kỉnh xá 2 lần, mỗi lần 3 xá, sau đó xá chúng… Theo lời hướng dẫn của thượng tọa Giác Mẫn, tiếng tụng kinh cúng dường và cầu nguyện của đại chúng vang lên:

 

Cầu xin cho lễ cúng dường này đến với đức Như Lai, xin Phật chứng minh.

Cầu xin cho lễ cúng dường này đến với chư Bồ-tát, xin Tăng chứng minh.

Cầu xin cho lễ cúng dường này đến với chư Phật, Pháp, Tăng, xin Tam Bảo chứng minh.

 

Tín chủ cúng dường Phật, Pháp, Tăng

Chứng minh công đức nhờ Tam Bảo

Chú tâm nguyện độ thiện duyên này

Tín chủ đời đời thêm phước báu…

 

Đây là nghi thức cúng Ngọ bình thường bên Tăng Khất Sĩ. Trước Giải phóng, có sư Giác Kiến đã bỏ Thầy Tịnh qua Nam tông một thời gian. Khi về lại, sư Giác Kiến đã mang theo một số cái hay của Phật giáo Nam tông Việt Nam, trong đó có bài cúng dường y bát, tứ vật dụng:

 

“Bạch đại đức từ bi minh chứng

Cà-sa [2] này dâng cúng chư Tăng

Xin ngài nhận lãnh phước ban

Cho con tấn hóa bình an lâu dài.”

 

Và bài khấn nguyện trước khi điểm tâm buổi sáng:

 

“Cúng dường hộ pháp chư thiên, chư vị thiên thần ủng hộ chúng sanh, Bồ-tát Ma-ha-tát.

Nguyện cầu cả thảy chúng sanh đồng đặng thọ phước cúng dường.

Lễ thỉnh chư sư ứng cúng chứng minh.”

 

Hai bài này đã được đoàn Thầy Tịnh sử dụng một thời gian rồi bỏ hẳn. Nhưng bắt đầu từ đoàn Thầy Tịnh, bài cúng dường y bát và tứ vật dụng đã phổ cập vào các giáo đoàn Khất Sĩ, và bài khấn nguyện trước khi điểm tâm buổi sáng đã được phổ biến ở đoàn Thầy An đến tận bây giờ.

 

Ăn cơm xong, sư Giác Phước mang ra một hộp hình cũ của hòa thượng Giác Diệu, vị trụ trì Tịnh xá Ngọc Đăng lâu nhất, từ năm 1973 đến khi cụ mất vào năm 2006. Hòa thượng Giác Thanh, thượng tọa Giác Mẫn và quý sư đều lại xem những tấm hình xưa. Thấy lại cảnh cũ người xưa, những tiếng cảm thán không hẹn mà cùng thốt lên từ hòa thượng và thượng tọa. Đoàn Thầy Tịnh đã một thời sôi nổi hoạt động từ miền Trung vô tới Sài Gòn, nhưng nay đoàn đã suy yếu, số Tỳ-kheo chỉ còn gần 40 vị. Hiện nay, tuy Giáo đoàn II còn 3 vị hòa thượng, 3 trưởng lão và 8 vị thượng tọa [3], một số lượng không nhỏ các vị tôn túc, nhưng hàng đại đức Tăng chỉ có khoảng 25 vị thì đội ngũ trẻ này quả thật là hơi ít so với 17 tịnh xá của giáo đoàn.

 

 Tôi lựa xem một số hình cần chụp hoặc scan lại và nhờ thượng tọa Giác Mẫn chú thích giúp. Qua những tấm hình, tôi cũng hiểu được một số việc. Như tấm ảnh dưới đây, thì ra các Đoàn Du Tăng ngày trước có mấy chiếc xe, cùng loại Rờ-nôn. Chiếc xe này có biển số TCA 904, là xe của đoàn Thầy Tịnh, không phải là chiếc Rờ-nôn có biển số NCA 704 mà giáo hội đã giao lại cho Thầy Tịnh vào năm 1962, sau khi các đoàn không còn đi hành đạo chung nữa.

 

 

 

Đoàn Thầy Tịnh lưu ảnh kỷ niệm trong một chuyến hành đạo. Trưởng lão Giác Tánh và Thầy Giác Tịnh ngồi đầu hàng bên trái. Chiếc xe đi hành đạo có gắn loa trên mui…

 

 

Và đây là mẫu cổng Tam quan của các tịnh xá đoàn Thầy Tịnh:

 

 

 

Cổng Tam quan Tịnh xá Ngọc Nhơn – Quy Nhơn trước năm 1975

 

 

Theo trong hình, các cổng ấy có 4 trụ 3 cửa 2 nhỏ 1 lớn, kết với nhau bởi những đám mây pháp trắng tinh bồng bềnh, mỗi đầu trụ vươn cao một đóa sen tinh khiết, và nơi chính giữa đầu cổng tôn vinh chữ Vạn tượng trưng cho vạn đức viên dung. Đương thời, ai không biết khất sĩ là giới nghèo nhất nhì trong xã hội. Nhưng hãy xem nơi họ ở, vừa đến cổng là đã thấy khác hơn bao nhà! Câu đối ở 2 trụ cổng chính đã nêu cao Đạo Khất Sĩ chơn truyền:

 

Khất thực hóa duyên, bình bát chứa chan lòng bác ái

Sĩ hành độ chúng, lá y nhuần đượm ý từ bi!

 

Đây là 2 câu đối đã được Thầy Tịnh chọn để đắp lên trụ cổng chính. Đại ý câu đối này tuyên dương Đạo Khất Sĩ hóa duyên độ chúng bằng y bát chơn truyền của chư Phật, thấm nhuần tâm đức Từ bi Bác ái. Còn 2 câu ở cổng phụ:

 

Túy [thúy] trúc huỳnh hoa phi ngoại cảnh

Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chơn!

 

Nghĩa là:

 

Hoa vàng, trúc biếc… vốn chẳng phải cảnh ngoài

Trăng sáng, mây trắng… đều hiển lộ toàn chân!

 

Thân tứ đại do cha mẹ sanh cho hay đòi ăn, đòi ngủ, đòi ỉa, đòi tắm rửa… lại hở chút là sanh bệnh tật và phải già, phải chết thật mệt mỏi. Còn Pháp thân không sanh không diệt, trùm khắp càn khôn, siêu nhiên tự tại… hiển lộ ngay tại muôn loài vạn vật, ngay tại cái thân trì trệ nặng nề này, mà sao ta không chịu giác ngộ nhận lấy? Câu thiền ngữ này có ý tứ siêu thoát lắm!

 

Từ trước năm 1975 mà Thầy Tịnh đã mạnh dạn cho làm cổng Tam quan như thế, thật là đã đi trước các huynh đệ trong mọi mặt hoằng pháp. Bước đến những ngôi cổng này, chắc ai cũng có cảm tưởng mình đang đến một nơi thoát tục. Tạo cho người đến tịnh xá một tâm lý trang nghiêm kính cẩn ngay từ cổng là điều nên làm, điều này không sai. Đồng thời, 3, 4 hình cổng đều không thấy có cửa, có lẽ vì các chủ nhân của xứ Cực Lạc bên trong cổng đó không xa cách nhân gian. Và do sống thiểu dục tri túc, vui nghèo mà giữ đạo, nên sự giàu có trong tâm hồn của các vị khất sĩ ấy có ai lấy được mà phải làm cửa ngăn! Cổng rất trang nghiêm hùng vĩ mà đều không có cánh cửa, có phải Thầy Tịnh muốn hiển thị đạo lý Phổ Môn?

 

 

 

Cổng Tam quan Tịnh xá Ngọc Trang – Nha Trang trước năm 1975

 

Chiều tối hôm đó, khi cùng mấy huynh đệ rời Ngọc Đăng ra Công viên Lê Văn Tám xem triển lãm sách mà tôi có nhiều cảm khái:

 

Từ thuở trước bao người dong ruỗi

Nay chốn này đến buổi chúng ta,

Con dòng hưởng lấy tài gia

Đoái nhìn sự nghiệp thương cha công trình!

 

Ngày nay, ai có thể làm cho Giáo đoàn II được phấn chấn trở lại như xưa? Tôi thấy chư Tăng đoàn II đa phần có chất lãng tử, đa số ưa chu du đây đó, phong thái phóng khoáng. Phóng khoáng là tốt, nhưng chệch một chút thành bất cần và vô trách nhiệm như tư tưởng của Bùi Giáng thì lại không hay. Thi sĩ khùng Bùi Giáng có một câu thơ mà ngày nay nhiều nhà thư pháp hay chọn để viết ra cho người thưởng ngoạn:

 

Ngày mai chẳng biết ra sao nữa,

Mà có ra sao cũng có sao!

 

Ma-ha Bát-nhã hằng tri hằng giác, có mê bao giờ mà “chẳng biết ra sao”? Có thái độ sống không vọng tưởng về một ngày mai là tốt, nhưng không phải vì thế mà người ta không có trí tuệ biết được ngày mai! Bùi Giáng sống vô trách nhiệm với bản thân, chính y không biết được ngày mai của mình rồi đi nói liều, thoạt nghe thấy có vẻ khác người, nhưng xét ra chỉ là phát ngôn của kẻ lãng tử chứ không phải là Phật pháp.

 

Mong sao cho Tổ ấn trùng quang, đạo nghiệp phục hưng trong giáo đoàn của đức Thầy Tịnh và đức Trưởng lão Giác Tánh đã dày công sáng lập! Mong mỏi thay!

 

 



 

[1] 8 sư về tới Ngọc Viên nhằm lúc đang cúng hội và đã bị bắt gần 100 ngày chẵn, hòa thượng Giác Tường nói là bị bắt 97 ngày, đại đức Giác Tôn nói là bị bắt 99 ngày. Vậy 8 sư được thả về vào buổi sáng, ngày cúng hội đó phải là ngày mùng 8 tháng 5 năm Giáp Ngọ và thời gian bị bắt từ ngày 5-3-1954 đến 8-6-1954 phải là 96 ngày.

 

[2] Tùy ngữ cảnh mà thay từ “Cà-sa” bằng các từ “Bình bát”, “Tứ sự”, “Hương hoa”…

 

[3] Ba hòa thượng Giác Dũng, Giác Thanh và Giác Hiền. Ba trưởng lão Giác Cẩm, Giác Ngôn và Giác Thông. Tám thượng tọa Giác Phi, Giác Mẫn, Giác Minh, Giác Khánh, Giác Mạnh, Giác Kim, Giác Sơn, Giác Hạnh.

 

-------------------------------------------------

 

 

 

 

 

Các bài liên quan