CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC THẦN DIỆU CHỮA DỨT MỌI TÂM BỆNH CỦA CHÚNG SANH!

Thư viện Chánh Pháp / Chơn Lý / TỨ KỆ TỈNH TÂM (Pháp sư Giác Nhiên biên tập)

, Thứ Hai 2011-10-17

 


 

TỨ KỆ TỈNH TÂM

 

       Nhiều tác giả

(Vi tính: Tâm Duyên)

 

Lời giới thiệu

(Nhân kỳ in lại năm 1994 – PL. 2538)

 

Thái tử Tất Đạt Đa đản sinh năm 623 trước Tây lịch tại vườn Lâm Tỳ Ni, thành Ca Tỳ La Vệ, xứ Ấn Độ. Lớn lên giác ngộ cuộc đời vốn vô thường, khổ não, vô ngã, bất tịnh… Thái tử vượt hoàng thành vào rừng sâu, xuất gia tầm đạo, tu tập chứng quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác thành Phật, được môn nhơn đệ tử hằng niệm danh hiệu: “Nam-mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật”

 

Sau 80 năm hiện thân, tu khổ hạnh, hành đạo, hoằng pháp độ sanh, Ngài nhập diệt. Từ đó giáo pháp của Ngài dần dần toả rộng khắp năm châu.

 

Đạo Phật du nhập vào Việt Nam rất sớm, từ những thế kỷ đầu Tây lịch, và thấm dần, thấm dần, bàng bạc đến nay gần cuối thế kỷ hai mươi. Phật giáo Đại thừa phát triển ngày càng bén rễ sâu đậm trong lòng quê hương dân tộc.

 

Đến giữa thập niên 1940–1950, Tổ sư Minh Đăng Quang khai sơn hình ảnh nhà Du Tăng khất sĩ tại miền Nam Việt Nam, được xem như một hệ phái Phật giáo biệt truyền, đặc thù, chỉ có ở miền Nam Việt Nam: Hệ phái Khất Sĩ. Nhưng điều kém duyên cho hàng môn đồ là không đầy mười năm sau, Tổ sư vắng bóng (1944 - 1954).

 

Từ năm 1955 đến năm 1975, chư Tăng Ni khất sĩ nối tiếp gương hạnh Tổ Thầy, hoằng dương chánh pháp khắp vùng đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, lên miền Đông Nam Bộ rồi đi suốt miền Trung Duyên Hải và Cao Nguyên, với hạnh nguyện:

 

Một bát cơm ngàn nhà                 (Nhất biều thiên gia phạn

Thân đi muôn dặm xa                   Cô thân vạn lý du

Muốn thoát vòng sanh tử             Dục cùng sinh tử lộ

Xin độ tháng ngày qua                 Khất hóa độ xuân thu)

 

Và từ đó:

 

Một cành mà nở trăm hoa

Bóng y bát đẹp quê ta tự rày

Chân truyền Khất Sĩ là đây

Bóng xưa với lại hình này dặm không!

 

Buổi đầu, một ngôi tịnh xá rồi mười ngôi, trăm ngôi. Chư Tăng Ni xuất gia cũng vậy - một vị, mười vị, rồi trăm vị, ngàn vị. Tín đồ cư sĩ tại gia thì lại càng đông hơn – hàng trăm, hàng ngàn, hàng vạn, hàng muôn, hàng triệu v.v…

 

Trong giới Tăng Ni, có người xuất gia tu học, hành đạo rồi đi trọn cuộc hành trình cho đến ngày công viên quả mãn, đạo nghiệp rạng ngời mãi mãi. Nhưng bên cạnh cũng có rất nhiều vị rơi vào trường hợp “bán đồ nhi phế”. Dù ở hoàn cảnh nào, các vị cũng đều khả dĩ ít nhiều có một dấu ấn lưu lại rất thân tình đạo vị trong lòng Tăng tín đồ thân thương. Đó là những bài kệ pháp được các vị viết nên từ những cảm khái hưng phấn trên bước đường hành đạo. Họ sáng tác nhiều thể loại: Lục bát, Song thất lục bát, Thất ngôn tứ tuyệt, hay Thất ngôn bát cú hoặc Bát ngôn trường thiên v.v… Điểm chung nhất mà các tác giả gặp nhau là ít khi họ ký tên hay bút hiệu của mình ở cuối bài thơ mà thường hay đề “Một vị sư Khất Sĩ”.

 

“Chim bay không lưu dấu”, đó cũng là dấu ấn chung của các vị đạo sư, thiền sư và hành giả học nhơn thời xưa cũng như thời nay trong giáo pháp Đức Phật.

Sưu tầm lại những tấm gương sáng, những lời khuyến thiện hay từ những tấm lòng, những tâm đạo nhiệt thành trong sáng làm nên nhiều bài thơ kệ đạo lý của các thế hệ trên trước đi qua lưu dấu lại cho các thế hệ đi sau quả nhiên là điều chẳng những nên làm mà còn phải cố gắng làm liên tục, càng nhiều càng tốt.

 

Trong quá trình sưu tập, chọn lọc lại, chúng tôi xin sám hối cùng chư vị tác giả là có mạn phép giảm bớt một số bài không còn phù hợp tính “cơ lý” trước dòng thời gian. Mong rằng chư vị tác giả và Tăng Ni Phật tử độc giả rộng tình lượng thứ cho.

 

Thiết tưởng tập kệ pháp khuyến tu khuyến thiện này sẽ ít nhiều là món ăn tinh thần Pháp bảo đầy đạo vị an tịnh đối với Tăng Ni tín đồ Phật tử trên đường tu tập và hành đạo.

 

Cầu nguyện sự hỷ lạc tinh tấn đến với mọi tâm hồn những người con Phật hữu duyên.

                                                                                          Cẩn bút

                                                               Sa-môn GIÁC TOÀN

 

CHÂN NGÔN

 

Tự cao, Ngã mạn, Ỷ lại, Tham gian và Ái nhiễm

là liều thuốc độc đưa người đến chỗ chết.

 

Nóng nảy, Đua tranh, Thù hiềm, Ganh tị, Độc ác

là nấc thang dắt người xuống hố địa ngục.

 

Xu hướng, Dị đoan, Tà kiến, Ái dục và Si mê

là nguồn gốc của sự luân hồi sanh tử.

 

Từ bi, Hỷ xả, Bác ái, Khoan dung…

là giọt mưa cam lồ nhuần gội.

 

Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục và Tinh tấn…

là diệu dược cứu nguy tâm hồn sa đọa.

 

Thiền định, Trí huệ, Giải thoát và Chơn như…

là nấc thang lên đến Niết-bàn tột đỉnh.

 

Mỗi người có sẵn đèn lòng,

Tự mình soi lấy, chớ trông tầm ngoài.

Cũng đừng ỷ lại vào ai,

Phật, Tiên, Hiền, Thánh, chính ngay tự mình.

 

PS. Giác Nhiên

 

 

PHẢI CHĂNG?

 

Tiếng lòng giục thúc thương nhân loại

Mượn ngòi bút mực dệt thành thơ?

 

Lưu kỷ lời vàng trong vạn kỷ

Thế nhân khó gặp kẻ siêu nhân?

 

Thuốc đắng khó dùng, mau hết bịnh

Mực tàu đau gỗ, lợi nhân sinh?

 

Sự thật trở về theo lẽ thật

Lời ngay, nói phải thật cho ngay?

 

Giải mở nỗi lòng, phiền não hết,

Phân rành lý đạo, chỉ tu chơn?

PS. Giác Nhiên

 

THAY LỜI TỰA

 

Tiếng chuông giục thức đêm trường mộng!

“TỨ KỆ TỈNH TÂM” giác ngộ đời…

***

Xin giới thiệu cùng quý chư độc giả!

Tựa quyển này là “TỨ KỆ TỈNH TÂM”

Tôi nhiều công, đã chọn lọc sưu tầm

Trong bốn quyển nay kết thành lại một.

 

Quyển thứ nhất tên tựa là “KỆ PHÁP”

Đã ra đời trên mười mấy năm qua

Quyển thứ nhì, “PHÁP BẢO KỆ” in ra

Đều tái bản được nhiều lần phổ biến.

 

Và kế tiếp, quyển thứ ba xuất hiện

Tên tựa là quyển “BẢO KỆ TÂM KINH”

Mấy quyển này tôi cố gắng tận tình

Chọn rút lấy nhiều thi văn tuyệt tác.

 

Quyển thứ tư nhiều vị hương bát ngát

Tên tựa đề là “PHÁP KỆ PHÁ MÊ”

Nhiều thi thơ hay khỏi có chỗ chê

THIỆN QUANG soạn của nhiều sư Khất Sĩ.

 

Bốn quyển trên, muốn ban hành Pháp thí

Tôi ra công soạn rút những bài hay,

Cả thi thơ có gần bốn trăm bài

Đầy hương vị, thơm tho mùi Đạo lý!

 

Quý tác giả, tôi không rành địa chỉ

Xin vui lòng hoan hỷ thứ dung cho,

Còn riêng tôi cũng gắng sức chung lo

Cố sáng tác những bài thi bất hủ.

 

Sức hiệp sức để kết nên thành tựu

Làm phương châm, diệu dược cứu trần gian,

Cũng gọi là một ngọn đuốc từ quang

Dìu khách tục khỏi lầm đường lạc lối.

 

Thấy sanh chúng muôn ngàn điều tội lỗi

Bị miếng mồi vật chất mãi bao vây

Bị danh cương, bị lợi tỏa hàng ngày

Bị tài, sắc, bị bạc tiền bêu nhử…

 

Màn vô minh đã phủ che án ngữ

Trong mịt mờ thấy càng thảm càng thương!

Mảng say mê trong giấc mộng canh trường

Ôi! Đau khổ! Thế nhân, ôi mặc kệ!

 

Chuông tỉnh giác, sớm hồi tâm kẻo trễ

Hỡi người ơi, chìm đắm mãi làm chi?

Kìa bao người đang đổ lệ lâm ly

Đành khóc hận cho kiếp đời đau khổ…

 

Cơ tận diệt khiến bão bùng giông tố

Tiếng than van, rên rỉ cả ngày đêm!

Tiếng kêu oan, tiếng oán hận càng thêm

Lửa nung cháy, còn chế dầu chi nữa?

 

Mau dập tắt, mau dùng phương cứu chữa

Là quay đầu hướng thiện trở về tu!

Chỉ có tu mới vẹt phá mây mù

Hầu xây dựng ngôi tòa chân hạnh phúc.

 

Xưa Đức Phật quyết tìm đường thoát tục

Hy sinh đời để cứu vớt chúng sanh,

Lòng từ bi không nỡ hưởng vui đành

Thấy sanh chúng đang hụp trồi bể khổ.

 

Ngài phát nguyện đi khắp nơi hóa độ

Chèo thuyền từ cứu vớt kẻ si mê

Pháp viên âm, Ngài mưa xối tràn trề

Cả muôn loại được thấm nhuần đạo lý.

 

Nay nhắc lại, trên hăm lăm thế kỷ

Mà gương Ngài chiếu sáng khắp năm châu,

Ân đức Ngài thật lớn rộng thâm sâu,

Con nối chí, quyết tìm phương độ chúng!

 

Vùng đứng dậy, phất ngọn cờ oai dũng

Mở tâm hồn càng rộng lớn thênh thang

Hươi bút lên, quét sạch lũ tham tàn

Dùng gươm huệ, diệt tiêu phiền não chướng!

 

Quyết tiến tới cho đạt thành chí hướng

Quyết đắp xây một thế hệ ai lân

Quyết phá tan bao khám ngục trong trần

Quyết dựng lập một ngôi tòa đại giác!

 

Quyển “TỨ KỆ TỈNH TÂM” hàm bao quát

Là pháp mầu, là diệu dược linh đơn

Cứu vớt người về đến chỗ toàn chơn

Và toàn thiện, toàn năng hay toàn mỹ…

 

                                                         Cảnh Bồng Lai tịnh xá Ngọc Hương – Vũng Tàu

                                                                  Mùa Hạ năm Bính Ngọ – PL. 2510

 

                                                                           Pháp sư GIÁC NHIÊN

 

TÁN DƯƠNG QUÝ NGÀI TÁC GIẢ

 

Thi văn tuyệt tác ở nơi đây

Khen ngợi quý ngài viết rất hay!

Đánh trống Đại hùng kêu khách tục,

Giộng chuông Bát-nhã chỉ về Tây.

Lý cao siêu xuất, hương ngào ngạt

Lẽ chánh tuyệt vời, vị ngọt ngay.

Ngọc ngữ kim ngôn lưu vạn kỹ

Tán dương thi sĩ bậc kỳ tài!

 

TÁN DƯƠNG CÔNG ĐỨC PHÁP THÍ

 

Phật dạy phước điền muốn rải ban

Chỉ duy Pháp thí đứng đầu hàng:

In kinh ấn tống bòn duyên phước,

Thuyết pháp nhiệm mầu được rưới chan,

Dịch các kinh văn ra phổ biến,

Viết kinh, thi, kệ chỉ ngay đàng.

Bốn điều công đức không chi sánh

Pháp thí bao trùm khắp thế gian.

 

HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC CHUNG

 

Chúng con dâng hết tấm lòng mình

Nguyện Phật ba đời độ chứng minh:

Ân rộng quý ngài công sáng tác,

Nghĩa sâu tín chủ góp tiền in,

Người xem trau sửa rèn tâm tánh,

Kẻ thí hài lòng trí huệ sinh…

Phước đức nguyện chung hồi hướng chúng

Âm siêu, dương thới hưởng thanh bình.

 

LỜI KHẤT SĨ KHUYẾN TU

 

Nay xuống bút vài hàng ngụ ý

Tả đôi lời hữu chí cánh thành,

Sống trong bầu vũ trụ đã đành

Sao nhắm mắt đưa theo chiều gió?

 

Đồ vật chất tham giành cho có

Bã lợi danh là gió làm duyên

Cuộc hồng trần lắm nỗi đảo điên

Cảnh đời ví như xiềng xích trói.

 

Có thân khổ làm sao tránh khỏi

Mau nhìn đường tìm tỏi bước ra

Vật trên đời như mật dính hoa

Ghẹo bướm nọ, kêu ong nhử kiến.

 

Kẻ giác ngộ chớ vì tham luyến

Thấy vật đời là miếng mồi trần

Mến tham thì khổ lụy tấm thân

Nên mau dứt, lìa trần giải thoát.

 

Thấy thời thế đắng, cay, chua, chát…

Cứ vì nhau xô xát mãi hoài

Thương chúng sanh vũ trụ muôn loài

Cam khốn khổ biết ngày nào hết?

 

Còn khổ bịnh, khổ già, khổ chết

Nỗi vô thường là vết đầu tiên

Trong chúng sanh tất cả các miền

Sanh với diệt xoay chuyền liên kết.

 

Nếu có sống ắt là có chết!

Sự nghiệp tan như kết vầng mây

Sống con người rày đó mai đây

Như đèn nọ treo ngay trước gió.

                                                             

Nhìn thấy đó bỗng liền mất đó

Nó vô thường huyễn hoặc lắm thay!

Phận con người ở chốn trần ai

Thân cũng tạm, vật nay cũng tạm!

 

Chớ tham đắm mà tâm mờ ám

Bụi hồng trần khuyến cám dụ người

Làm cho ta lỡ khóc lỡ cười…

Mà có bấy nhiêu người hiểu rõ?

 

Nhớ thuở trước anh hùng Hạng Võ

Lược thao tài có mấy ai hơn…

Rốt cuộc rồi đến lúc lâm cơn

Cắt đầu nạp giao cho Hàn Tín.

 

Cũng lắm kẻ bao người dự thính

Thì về sau cũng dính tay không

Giống dã tràng xe cát biển Đông

Rủi lượn sóng, uổng công khó nhọc.

 

Thương kẻ dốt mà không chịu học

Trốn bỏ trường đi chọc phá đời

Theo văn minh nhiễm thói chơi bời

Nên khốn khổ cho thời lầm lạc.

 

Cũng chẳng khác con bò hông mạc

Thấy bóng đèn cứ tạt nhảy vô

Thảm thương thay! Chết héo, chết khô

Mà chẳng rõ cơ đồ tại nó…

 

Mây cuồn cuộn đưa theo chiều gió

Sau lâu ngày cũng có rã tan,

Cảnh hồng trần là cuộc mơ màng

Thay đổi mãi hết tan đến hiệp.

 

Sự mộng ảo diễn ra liên tiếp!

Cái vô thường kiếp kiếp chóng mau

Người chẳng lo đường đạo bước vào

Tu giải thoát ngày sau vĩnh viễn.

 

Chớ tham đắm cuộc đời mộng huyễn

Nào thân bằng, quyến luyến vợ con

Cũng đền đài, kiệu phụng, lầu son

Và cha mẹ, bà con, bạn hữu…

 

Vì tham tiếc của tiền đầy tủ

Vật chất nhiều quyến rũ kéo lôi

Cả tiếng kêu người trí kia ôi!

Mau dứt nó cho rồi rảnh khổ.

 

Hồi thuở trước Thích Ca Phật Tổ

Còn lìa trần kiếm chỗ tu thân

Bỏ lầu đài, cung điện, mỹ nhân

Cùng vợ đẹp, con thơ kia đó.

 

Ngài còn nói cạn lời phân tỏ

Đường sông mê thật khó lướt qua

Nhưng Ngài nghĩ đó là biển khổ

Nên mau mau kiếm chỗ thoát thân.

 

Ngài nói rằng: Cảnh thế bụi trần

Sự giả tạm do nhân duyên hiệp

Thấy cảnh khổ diễn ra liên tiếp

Sống con người trong kiếp mấy hồi!

 

Ngài nhìn tường thấy cảnh hỡi ôi

Thương sanh chúng đắp bôi trần tục

Chốn hắc ám là nơi địa ngục

Biết bao người tự rúc nhào vô…

 

Giành tước quyền, cấu xé lấn xô…

Tạo nghệ nghiệp, cơ đồ, dinh thự

Mạnh hiếp yếu, kẻ hiền thua dữ

Ở trên đời chẳng chữ “công bình”.

 

Tả làm sao hết khổ cho minh

Ngài thấy vậy, động lòng thương xót

Cõi trần thế mấy ai thoát lọt

Nỗi tử, sanh khổ não bịnh, già…

 

Ngài liền xin với lịnh vua cha

Cho con được xuất gia giải thoát

Nghe lời xin lịnh vua ngơ ngác

Rằng: “Cha già chỉ có một con”

 

Nào đền đài, kiệu phụng, lầu son

Tước đế vị, sau con nối nghiệp

Và mỹ nữ, cung phi, thê thiếp

Các lâu đài hạp tiết bốn mùa…

 

Xuân sang, Đông Hạ mãn, Thu qua

Cho con ở, đờn ca giải trí…

Con còn muốn vật gì nhất quý

Cha hết lòng cũng phỉ phê cho.

 

Vợ con thì có đủ người phò

Con nên nghĩ xét so cho rõ?”

Ngài liền nói cạn lời phân tỏ:

“Con muốn vầy: Trẻ mãi chớ già!

 

Cùng ốm đau, chết chẳng lân la

Được giải thoát lìa xa cõi tục

Chẳng trìu mến cuộc đời nhục dục

Tránh hai đường sanh tử luân hồi”…

 

Lịnh vua cha nghe nói hỡi ôi

“Xin điều ấy làm sao phê được?

Cha nay cũng còn trong ngũ trược

Thì làm sao con được thanh bai?

Cõi hồng trần sanh tử xưa nay

Mà xin phú có ai phê được?

 

Vua sợ nỗi cho Ngài thoát vượt

Nên canh phòng nghiêm ngặt hơn xưa

Gặp thời may sắp có chuyển mưa

Trời u ám, mây mờ đen hắc.

 

Ngài lên cỡi mã long Kiền Trắc

Thừa đêm khuya lén trốn vào rừng

Lìa cha già, vợ đẹp, con cưng

Tìm đạo lý cứu cho trần thế.

 

Thấy tứ khổ chúng sanh rất tệ

Ngài phát nguyền để tế độ đời

Sống trong bầu vũ trụ đất trời

Nơi tất cả ai ai cũng có…

 

SANH: Trong bụng mẹ lọt ra khóc ó

Tiếng “Khổ a” khó khó cảnh đời!

Nhờ mọi người tất cả nơi nơi

Mạng sống chết giao cho người giữ

 

LÃO: Ngày một lớn tập lần ngôn ngữ…

Thì lần lần sắp tử đến già

Khổ thứ này nào có gì qua

Mắt mờ mịt dòm xa chẳng thấy.

 

Tai thì điếc, nhờ nương cây gậy

Gối run lia như bẫy mắc giò

Tóc bạc đầu, răng rụng, ốm o

Da bọc lấy xương cho đỡ tạm.

 

BỊNH: Bịnh đưa đến càng thêm rất thảm

Vì uống ăn chẳng đặng điều hòa

Bịnh căn này thân ấy phát ra

Thì đau khổ rên la nhức nhối.

 

Cơn bịnh hoạn không phương tránh nổi

Còn mang thêm tật nọ tật kia

Sự thúi hôi ai cũng xa lìa

Thân trằn trọc lăn qua lội lại.

 

Bịnh đủ chứng: cùi, phong, tê, bại

Bịnh suyễn ho, bịnh tại phổi gan

Bịnh nhức đầu, sổ mũi, trái, ban

Chẳng kể xiết muôn ngàn chứng bịnh…

 

TỬ: Rồi lần lượt thân này tịch tịnh

Kể từ đây đến lúc chia lìa

Đường tử sanh hai ngả phân chia

Kẻ ở lại, người về âm cảnh!

 

Xa cách biệt ngàn năm hiu quạnh

Cảnh giả trần hết thạnh rồi suy

Sống con người gẫm có ích gì?

Mà say đắm làm chi cho khổ!

 

Nên thuở trước Đức Ngài Phật Tổ

Có dạy truyền di giáo lời này:

Người chớ đeo vật chất mê say

Mà đi lạc đường ngay nẻo chánh.

 

Phải noi dấu theo đường Phật Thánh

Dứt nghiệp duyên xa lánh hồng trần

Tìm đạo vàng nương dựa tu thân

Đặng tìm xét kiếm phần ngọc báu.

 

Chớ cung điện, lâu đài, áo mão

Nó vốn là mộng ảo vô thường

Lại gây điều nghiệp báo oan ương!

Vì Đức Phật lòng thương bác ái,

 

Nên Ngài mới đem lời huấn dạy

Kẻo người đời cứ mãi trau dồi

Phải chìm đắm luân hồi biển nghiệp.

Nay trở gót mau tu cho kịp

 

Đồng chung cùng hội hiệp đi lên

Con đường tu Phật - Đạo đứng trên

Ta cần bước qua nền mới vững.

Niết-bàn cảnh thanh nhàn chứa đựng

 

Cho người đời hết nghiệp bước qua

Cảnh trường tồn, bất diệt có ta

Thì dứt hẳn Ta-bà kham khổ!

Thì quyết hẳn ra ngoài đau khổ!...

 

Đánh trống giộng chuông thức tỉnh đời

Cuộc trần giả tạm vốn trò chơi

Đeo theo chi mãi điều oan nghiệp

Đây lắm lòng thương tỏ hết lời.

 

KHUYÊN SỚM GIÁC NGỘ

 

Tánh linh người vật cũng đồng

Tuy không biết nói mà lòng biết nghe

***

Khuyên người chớ giết sanh linh

Đem ra cúng tế cầu xin thần quyền

Lòng nhơn phải ở cho hiền

Ấy là “bất sát” phải kiêng luật trời

Thiện lành nắm giữ chớ rời

Người cùng muôn vật đều thời sống chung

Ta nên phải nghĩ cho cùng

Lẽ nào đem cái dữ hung áp đàn

Giết loài sinh vật muôn ngàn

Mà đem cúng tế cầu an cho mình

Thật là trái lẽ công bình

Phật Trời nào có vị tình ta đâu

Trồng dâu thì sẽ hái dâu

Gieo “nhơn” hái “quả” chớ đâu sai dời

Muôn loài vạn vật trên đời

Cũng đồng mạng sống cũng thời mang thân

Trên đời có một cây cân

Ai ai cũng sống có phần như nhau

Người cùng muôn vật khác nào

Giết thân chúng nó đớn đau như mình

Mở lòng một chút niệm tình

Tha gium chúng nó thân hình nhỏ nhoi

Không đành thấy giết mà coi

Huống chi ăn uống giống nòi thuở xưa

Phải nên cố tránh và ngừa

Hồng hoang thượng cổ từ xưa đến giờ

Lẽ nào lấy mạnh hiếp khờ

Trước kia mình cũng ư ơ đó mà

Dầu cho cha mẹ, ông bà

Trăm năm mãn số cũng là chớ sai

Lòng lành là cúng cơm chay

Chớ nên sát hại các loài thú kia

Dối rằng nói cúng: rồi chia…

Mà đành phú tội đổ về mẹ cha!

Mình ăn sướng miệng âu ca

Vong linh cha mẹ phải sa đoạ đày

Đó là bất hiếu lắm thay!

Đành để kẻ chết đắng cay khổ sầu:

Chết rồi ăn uống được đâu?

Phải nên suy xét cho sâu mới là…

Đừng theo tả đạo ngoại tà

Sát sanh hại vật cúng mà tổ tiên

Ấy là tạo sợi xích xiềng

Cột cầm cha mẹ dưới miền Diêm la

Hành hà đau đớn thiết tha

Xin người thương xót với cha mẹ cùng

Nỡ nào bất nghĩa, hiếu, trung…

Tương ưng oan báo chẳng dung cho người

Cây lành mọc nhánh chồi tươi

Sanh linh “bất sát” mới người thiệt “nhơn”

Cuộc đời công lý tuần hoàn

“Sát sanh thường mạng” chẳng hơn kém gì

Nên thường niệm chữ từ bi

Thương loài sanh vật như thì thương ta

Noi truyền theo dấu Thích Ca

Ăn chay đạm bạc cũng qua tháng ngày

Chớ nên tạo nghiệp đắng cay

Ngon chi lưỡi miệng muôn ngày khổ đau

Sống cần tu học dồi trau

Thì là dưa muối tương rau tạm dùng

Thân này đừng có quén vun

Nó là tứ đại hiệp cùng với nhau

Rồi đây có lẽ lâu mau

Thì cũng rã đoạn chớ nào bền lâu

Đừng gây nghiệp báo thâm sâu

Muôn đời ngàn kiếp cất đầu chẳng lên!

Nhơn lành đạo đức làm trên

Theo con đường ấy vững bền về sau

Rán mà sửa đổi dồi trau

Ăn chay trọn thiện thác vào cảnh Tiên

Luân hồi cùng mối oan khiên

Chẳng còn đeo níu trói xiềng được ta

Khuyên cùng tất cả gần xa

Mở lòng lương thiện rán mà ăn chay

Giữ lòng chơn chánh thảo ngay

Thì là Phật cảnh liên đài chẳng xa

Biết phân nẻo chánh đường tà

Chớ gây nghiệp báo oan gia làm gì

Muốn tránh nạn khổ sầu bi

Một lòng nắm giữ kiên trì giới nghiêm

Đèn cháy do lửa, dầu, tim…

Người lấy chơn chánh thanh liêm sửa mình

Soi đèn trí tuệ quang minh

Cho người thấy rõ giữ gìn hành theo.

 

MUỐN SANH ĐỪNG SÁT

 

Cúng kiến khuyên người chớ sát sanh

Sao mà giết hại vật cho đành

Thú kia cũng muốn cùng ta sống

Bao nỡ đoạn tình hỡi chị anh!

Chay lạt chưởng lòng thương chủng loại

Sạch trong chứa đức giữ tâm lành

Thương đời, Phật để lời trau dạy

Muốn thoát luân hồi chớ sát sanh.

 

KHUYÊN CÚNG CHAY

 

Xưa kia cúng mặn lỗi lầm thay!

Nay giác ngộ rồi đổi cúng chay

Dưa muối tương rau tuy đạm bạc

Cơm canh bánh trái thảo lòng ngay

Trước gìn mạng sống muôn loài vật

Sau giữ lòng nhơn nghiệp khỏi vay

Tánh khởi từ bi chơn Phật hiện

Tâm hành từ thiện kiến Như Lai.

 

Phật, Thánh, Tiên có dạy rõ ràng

Ai người muốn đến cõi Tây phang

Giữ gìn trai giới cho trọn vẹn

Sớm muộn cũng qua tận Niết-bàn.

 

LỤC TỰ DI ĐÀ – NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT

 

Chữ NAM theo nghĩa cố tầm

Niệm Phật là niệm cái tâm vậy mà

Thường tình tánh nóng của ta

Phải mau dập tắt, lòng tà bỏ đi.

Chữ MÔ cũng rán làm y

Tâm không lẳng lặng vướng chi việc trần

Rán mà giữ giới chuyên cần

Phàm tâm dứt bỏ đặng gần Thánh Tiên.

Chữ A là giữ cho yên

Dưỡng tâm, dưỡng tánh lại chuyên dưỡng thần

Ngồi nằm đi đứng ân cần

Tùng tâm biệt niệm nhất trần biệt vô.

Chữ DI sâu nghĩa rán mò

Khí tinh nơi thận cần cho đủ đầy

Khuyên đừng dâm dục tạo gây

Báu nhà gồm hết đủ đầy thần thông.

Chữ ĐÀ có nghĩa sáng trong

Quán soi mọi vật khắp trong cảnh đời

Biển trần sóng bủa chơi vơi

Đạo mầu tịch chiếu rạng ngời thân tâm.

Chữ PHẬT là nói cái mầm

Hãy đem trí não mà tầm cho ra

Thế gian lựa giống nơi ta

Quỷ, Ma, Trời, Phật cũng là tại tâm.

 

CẢNH GIÁC

 

Dầu cho ở thế bậc cao quan…

Gẫm lại chẳng qua một chữ nhàn

Việc nước hưng vong và trị loạn

Đạo nhà bĩ thới với bi hoan!

Trả vay, vay trả không rồi rảnh

Vinh nhục, nhục vinh chẳng vẹn toàn

Khuyên thế đua chen mau trở gót

Dắt dìu ra khỏi cảnh thương tang!

Cụ PHAN THANH GIẢN

 

HỒI TÂM

 

Kẻ đi người đến tựu rồi tan!

Sự nghiệp kinh dinh thể dã tràng

Sanh giữa tình đời càng tủi hận!

Sống trong bể ái nghĩ thầm than!

Bao nhiêu danh lợi tình mơ mộng

Chút xẻo tài hoa cảnh ảo tàn!

Chẳng luận gái trai, già bịnh chết

Vô thường giục thúc tựu rồi tan!

 

ÁNH ĐẠO VÀNG

 

Nhìn cuộc thế đầy lòng thê thảm!

Cảnh trần gian hôn ám mịt mù

Vậy mà sao chẳng chịu tu?

Để cho hoàn cảnh mặc dù chuyển xoay

Vì chẳng rõ trần ai khổ não

Mọi sự đều mộng ảo vô thường

Bao lần biến đổi tang thương!

Sanh, già, đau, chết là đường thế gian

Mà lắm kẻ còn đương chìm đắm

Trút hơi rồi còn nấm mồ hoang!

Nhìn xem là đống xương tàn!

Cỏ xanh bao phủ tràng phan bịt bùng…

Nào mấy kẻ anh hùng nghĩ đến

Nên vẫn còn tham mến lợi danh

Mạnh oai lấn lướt giựt giành

Chừng buông tấc thở thôi đành bỏ đi!

Người chưa rõ huyền vi tạo hoá

Luật tuần hoàn nào há vị ai?

Đó là công lý phân hai

Bây giờ nếu được, mất ngày về sau

Bằng sớm giác thì mau quay gót

Trái lại còn thương xót kẻ mê

Chẳng mau kíp trở lộn về

Cũng vì tríu mến, nghiệp nghề trần gian

Càng đi thẳng vào hang mờ tối

Trải bao đời bít lối trở ra

Lại làm quyến thuộc chúng ma

Vẫn còn chưa biết vào ra ngục hình

Lòng bác ái động tình Phật Thánh

Khai mở ra một Ánh Đạo Vàng

Là thuyền đưa rước qua giang

Cho người ra khỏi sáu đàng nghiệp nhơn

Đường tịnh lạc nào hơn Phật cảnh

Cõi thanh bai xa rảnh nghiệp trần

Cũng nhờ cắt ái ly thân

Xuất gia giải thoát chẳng cần lợi danh

Vừa phủi mái tóc xanh lìa khỏi

Kể từ đây là cõi vân du

Không còn mây ám sương mù

Khác nào ra khỏi ngục tù trói trăn

Ai bằng đủ thiện căn phước đức

Cũng khá nên tháo dứt cho rồi

Đeo chi theo bánh luân hồi

Trong vòng quanh quẩn đứng ngồi chẳng yên

Mau chân bước lên thuyền giải thoát

Lìa tách xa ngũ ác lục trần

Cùng là mê muội tham sân

Dồi trau trí huệ thi ân với đời

Trải bao đoạn mòn hơi kiệt sức

Thì mới đi đến mức thành công

Khác hơn bọt nước giữa dòng

Ba đào sóng dậy tang bồng ích chi?

Nhìn những kẻ thoát ly thong thả

Độ rồi cùng tất cả chúng sanh

Mới là bửu báu tinh anh

Quý hơn những kẻ háo danh tham quyền

Kìa thấy bóng sĩ hiền Tăng khó

Khi ra đi xóa bỏ một lần

Chẳng còn chứa mảy bụi trần

Rồi xin lăn lóc nuôi thân qua ngày

Chân đạp đất không giày không guốc

Đầu đội trời cả suốt bốn mùa

Chẳng còn trang điểm se sua

Về phần vật chất chịu thua hơn đời

Chớ tâm trí sáng ngời chói bóng

Các bợn nhơ chẳng đóng được vào

Thoát ra khỏi chốn trần lao

Hành theo pháp luật rèn trau sửa mình

Tứ y pháp và bình Bát chánh

Đi hóa trai để tránh lỗi lầm

Cho người hảo dạ từ tâm

Gieo vào ruộng phước kết mầm quả chơn

Là phương pháp đền ơn sanh chúng

Đem lời lành mưa phún xối ra

Vật lời trao đổi lại qua

Nên đi khắp cả Ta-bà giáo khuyên

Bằng có kẻ hữu duyên hữu phước

Được uống vào những nước Thánh bình

Thì là thong thả nhẹ mình

Bay ra khỏi chốn ngục hình trần lao

Và sẽ được nhập vào Thánh chúng

Thọ chơn truyền tu đúng pháp môn

Theo lời giáo huấn Thế Tôn

Chắc là mình hết sinh tồn đáo lai

Trong lục đạo trần ai kia nữa

Nhờ kiên trì gội rửa trần tâm

Dứt lìa các mối sai lầm

Trí liền huệ sáng thấy tâm Phật-đà.

 

ÁNH hồng huệ nhật vẹt sương tan

ĐẠO hiện ra đời cứu thế gian

VÀNG thiệt kim ngôn soi đuốc sáng

Để người biết rõ ánh minh quang.

 

NGÁN ĐỜI NƯƠNG ĐẠO

 

Cuộc thế mơ màng giấc lợi danh

Được thua gì cũng chốn mê thành

Ruộng dâu muôn đám hoàn thương hải

Lầu tía ngàn căn biến lộ hành

Tóc bạc bao giờ thay tuổi trẻ

Da dùn há dễ trở mày xanh

Trò đời nghĩ lại chao ôi ngán!

Cửa Phật chi bằng pháp bất sanh.

 

TUỒNG ĐỜI GIẢ TẠM

 

Trường hát nhân sanh cứ diễn trò

Hơn thua cao thấp mặc so đo…

Thông minh tài trí trang anh dũng

Dại dột ngu si cũng một gò

Sống tạo lợi danh cùng phú quý

Thác rồi hóa đất cũng xương tro

Chỉ còn tội phước đem theo đặng

Thưởng phạt công bình khỏi sợ lo.

 

HÀNH LỤC ĐỘ

 

Cúng dường BỐ THÍ người ta

Tránh tham lần bớt để mà tiến lên

Duy TRÌ GIỚI hạnh mới nên

Độ cho tánh ác hạ bên tấm lòng

Hãy cho NHẪN NHỤC vào trong

Tống ra sự giận đốt nung con người

Khá trì TINH TẤN chớ lười

Dầu khổ thế mấy vui cười lướt qua

Hằng lo ĐỊNH TRÍ THIỀN NA

Đặng đừng tán loạn mê sa cõi trần

Rán giồi TRÍ TUỆ đắc phần

Hết phen ngu muội thoát thân khổ sầu…

 

Ra ơn BỐ THÍ giúp cùng nhau…

TRÌ GIỚI nghiêm mình vẹn trước sau

NHẪN NHỤC thương người cơn khốn khổ

Giải mê cho kẻ buổi lao đao

Tánh chơn ví chẳng hồng trần bợn

TINH TẤN càng thêm phẩm giá cao

THIỀN ĐỊNH lặng trong thâu diệu pháp

Độ điều BÁT-NHÃ khá mau mau…

 

Bồng Lai thoát kiếp nợ trần duyên

Tu học cần lo giữ đạo huyền…

Khuyên hỡi khách trần mau tỉnh mộng

Hồi tâm trở lại cõi Tây thiên.

 

TIẾNG CHUÔNG GIÁC TỈNH

 

Mừng thay Phật pháp ra đời

Năm châu bốn biển chói ngời quang minh

Cảnh đời chìm nổi linh đinh

Ba đào sóng gợn biển tình nhấp nhô

Ai người giữa chốn giang hồ

Mau nương thuyền giác vượt vô mé bờ

Giữa dòng biển khổ đục nhơ

Cõi trần lửa cháy mịt mờ khói đen

May mà được gặp ánh đèn

Minh Quang rạng chói một phen sáng lòa

Vậy thì hãy sớm bước ra

Tìm đường giải thoát xuất gia tu hành

Ham chi vì mối lợi danh

Còn đèn trí huệ để đành tắt sao?

Thích Ca còn bỏ cung trào

Đi tu làm Phật ngày sau độ đời

Chẳng màng đến sự vui chơi

Lầu đài, dinh thự đồng thời bỏ đi

Dầu cho mỹ nữ cung phi…

Quyền cao lộc cả chẳng gì đoái ham

Quyết tìm đường giải thoát phàm

Vua, Ngài còn chẳng chịu làm đó kia

Danh Ngài thanh sử còn bia

Để đời soi sáng mà lìa thế gian

Tiếng chuông ngân dậy bên đàng

Ấy là giục thúc những hàng say mê…

Mau mau kíp trở lại về

Vào ngôi Chánh giác Bồ-đề dựa nương

Hữu duyên lắm mới gặp đường

Không còn sợ phải sụp mương té hầm

Thoát ra khỏi chốn lạc lầm

Mới là biết chỗ giam cầm bấy lâu…

Mải vì danh lợi chảo dầu

Của trần lại muốn góp thâu cho nhiều

Hồi nào nhắm mắt đánh liều

Nay bằng giác ngộ thôi dìu dắt ra

Noi truyền theo dấu Thích Ca

Tìm đường giải thoát vượt ra luân hồi

Biển trần khổ lắm than ôi!

Gió cuồng, sóng cuộn hụp trồi mãi sao?

Cuộc đời như giấc chiêm bao

Sanh, già, đau, chết có nào vị ai…

Dầu cho già trẻ gái trai

Trước sau đều cũng vào tay vô thường

Phật vì bác ái lòng thương

Mới ra mở lối dắt đường chúng sanh

Cho người có đủ căn lành

Gieo vào hột giống trên cành liên hoa

Chiếc thuyền Giáo hội Tăng-già

Là nơi Cực Lạc Ta-bà vãng sanh

Cũng là miếng đất tịnh thanh

Không còn những sự phạt hành chua cay

Nay đà gặp đặng duyên may

Chẳng nên chờ đợi qua ngày làm chi!

Bước vào quảy bát mang y

Lưới trần thoát khỏi ra đi cứu đời

Một mình thong thả thảnh thơi

Mang chi vật chất cho thời nặng vai

Mỗi ngày một bữa ngọ chay

Miễn cho tạm sống qua ngày mà tu

Trong mình chẳng chứa đồng xu

Để cho rảnh trí công phu tham thiền

Đi xin làm cớ hóa duyên

Cho người gieo ruộng phước điền vào sau

Lần hồi giác ngộ quay đầu

Cũng là phương pháp góp thâu sĩ hiền

Bởi vì cuộc thế đảo điên

Nên Tăng là mối tơ giềng chúng sanh

Đứng ra chỉ giảo thật hành

Mới là miếng thuốc trường sanh cứu đời

Đi cùng đây đó khắp nơi

Hành theo giáo huấn của lời Thế Tôn

Chắc là mình hết sinh tồn

Kiếp này kiếp chót còn dồn lại đây

Thoát vòng sanh tử ra ngoài

Chẳng còn lăn lộn trần ai nhọc nhằn

Niết-bàn cảnh ấy thanh nhàn

Ta mau đến đó dưỡng an tinh thần.

 

Đạo mầu đắc ngộ chứng kim thân

Mê đắm làm chi chốn giả trần

Sanh tử, tử sanh trong nháy mắt

Đường tu giải thoát gắng chuyên cần.

 

TỈNH NGỘ

 

Cuộc đời ví thể bóng lìa Tây

Sao chẳng hồi tâm thoát kiếp này?

Phú quý mãn căn dường bọt nước

Vinh hoa hết số tợ bèo mây

Dùng gươm Trí huệ lìa tình dục

Mượn cửa Từ bi dứt ái dây

Sớm lướt thuyền Sen xa bến tục

Giã từ biển thế thẳng đường Tây.

 

KỆ TĨNH TÂM

 

Lòng bi mẫn chư Tăng hiền sĩ

Đồng phô trương giáo lý truyền ra

Độ dân thoát khỏi ái hà

Đem về đường chánh cải tà quy chơn

Lời thuyết giảng như đờn kêu thế

Giọng phù trầm cần để tâm suy…

Rõ rồi mới dứt lòng nghi

Hiểu thông chơn lý đường đi thoát trần

Nơi cõi tạm muôn phần cay nghiệt

Muốn cứu đời dùng thuyết vô vi

Dạy sao hãy gắng làm y

Tu cho đắc quả ra thi hội này…

Kỳ ngươn hạ rồng mây chói rạng

Đức thắng tài đạt bản hư vô

Chớ nên để chí mơ hồ

Chơn linh diệu pháp hà đồ khó thông

Coi hiện giờ tuy không mà có

Có hiện giờ sau rõ thành không

Đạo chơn phổ hóa con hồng

Đưa qua lạc cảnh khỏi vòng lao lung

Cậy nhờ sức nam hùng nữ liệt

Nam thì lo cương quyết tu trì

Nữ thì cần học huyền vi

Độ người phải chịu lắm khi công trình…

Đời thượng cổ thinh thinh tòng bá

Nhơn vật đồng vui cả hưởng an

Khỏi lo khổ sở tai nàn

Dẫy đầy vật chất muôn ngàn thú vui…

Chừng ấy mới rõ mùi đạo vị

Bốn phương trời phục thủy hoàn nguyên

Càn khôn vũ trụ sơn xuyên

Cỏ cây non nước vui miền trời xuân

Khắp sanh chúng gội nhuần tâm pháp

Người người đều vui hạp cảnh xinh

Nghĩ ra còn lắm thảm hình

Bền lòng gắng chí giữ gìn đạo tâm…

Đem pháp nhiệm huyền thâm độ chúng

Dắt dìu người khỏi vũng trầm kha

Gieo truyền tư tưởng nhẫn hòa

Nhân sanh biết rõ rán mà nương theo

Tránh xa lúc hiểm nghèo sẽ tới

Tới bên mình còn đợi chừng nào

Tu hành đạo đức dồi trau

Hoát thông chơn lý kêu gào kẻ mê

Đời đã khổ dựa kề thêm khổ

Mau thoát trần tìm chỗ ẩn thân

Gắng lo đạo đức đắc phần

Rồi đem lý đạo giải lần kẻ say

Bến giang hà đổi thay nhiều chủ

Nước sông Tương gội đủ tinh thần

Khuyên ai tỉnh giấc mộng trần

Nương thuyền Bát-nhã vượt lần về Tây

Chớ ở chốn cõi này lao lý

Chịu vô thường, bền bỉ gì đâu?

Sớm mau giác ngộ quay đầu

Niết-bàn Cực Lạc sẽ hầu một bên.

 

MẪN ĐỜI HẠ BÚT

 

Đánh trống giộng chuông lẽ cố nhiên

Bứt mây động đến chốn rừng thiền

Bởi thương nhân loại nên cầm bút

Thức tỉnh cho người dạ mới yên

Chẳng phải cầu danh hay trục lợi

Chỉ ngay đường lối Phật và Tiên

Bảo thôi sắc tướng, lo tu niệm

Đạt được thiền cơ mới diệu huyền.

 

NGÁN HỒNG TRẦN

 

Hồng trần mi hỡi hồng trần?

Đốt người thiểu phước mấy lần tan xương

Kìa như Xiển giáo họ Khương

Phong trần mấy trận đao thương chém mình

Tiếc thay cho Triệu Công Minh

Bị trù mà chết dứt tình ba em

Ngó lại Tam Tạng mà xem

Tám mười mốt nạn đã thèm thỉnh kinh

Huống chi lắt lẻo phận mình

Mới tu chút ít mà kình đời xưa

Thân mình, mình độ xong chưa

Mà đòi về thế rước đưa bộ hành

Đem thân giữa chốn cạnh tranh

Đặng mà dục lợi cầu danh cho nhiều

Dè đâu ngọn lửa đốt thiêu

Uổng công đức hạnh bấy nhiêu hết rồi

Cũng như cây nọ dứt chồi

Càng ngày càng héo, sau rồi chết khô

Cúi xin hiền hữu huynh cô

Tu sao thoát khỏi tam đồ mới tu

Bằng mình còn ở trong tù

Kẻ dại mà độ người ngu nỗi gì?

Cảnh dương rửa sạch trần đi

Muốn tu nên phải nhớ ghi vào lòng.

 

Hồng trần gẫm lại thấy mà ghê!

Lửa đỏ cháy lan khắp bốn bề

Thức tỉnh khá mau tìm giải thoát

Nương thuyền Bát-nhã trở về quê.

 

SỐNG GỞI THÁC VỀ

 

Sự đời gẫm lại nghĩ mà ghê

Sống gởi rồi ra lại thác về

Khôn dại cùng chung ba tấc đất

Giàu sang chưa chín một nồi kê

Tranh giành trước mặt mây tan tác

Đày đọa kiếp sau chịu nặng nề

Ai sớm thức tâm quày trở lại

Nương thuyền giác ngạn trở về quê.

 

TAM GIÁO ĐỒNG NGUYÊN

 

Lão Quân, Khổng Tử, Thích Ca

Tuy phân tam giáo xét ra một màu

Lý tu tánh mạng như nhau

Phật, Tiên, Thánh Tổ lẽ nào nhiều tâm

 

Phật, Thánh, Tiên như đốn, tiệm, huyền…

Dắt người trở lại cảnh đào nguyên

Nương theo tam giáo về ngôi thứ

Căn bổn gồm chung có một thuyền…

 

Thích rằng kiến tánh minh tâm

Nho rằng dưỡng tánh tồn tâm khác nào!

Đạo gia đồng nghĩa trước sau

Toàn bằng luyện tánh tâm trau lạ gì?

 

Phật, Thánh, Tiên tam giáo một nhà

Người đời chẳng rõ gọi phân ba

Chia nhau cao thấp cùng trên dưới

Nên mãi trầm luân giữa ái hà…

 

Tiên, Phật cũng đồng một phép tu

Mà thành chánh quả vẹt mây mù

Người đời chẳng rõ nên khinh bỉ

Muôn kiếp không ra khỏi ngục tù.

 

Phật, Tiên, Hiền, Thánh tại lòng ta

Gom lại thì chung có một nhà

Tùy thuận chúng sanh nhiều hạng bậc

Pháp môn huyền, thiệt mới phân ba.

 

KỆ HỒI TÂM

 

Chốn thảo lư an cư dưỡng tánh

Dốc một lòng nhập Thánh siêu phàm,

Sắc, tài, danh, lợi chẳng ham

Thị phi phủi sạch, luận đàm mặc ai…

 

Tuyết ban mai lâu dài chi đó?

Thân người đời nào có bao lâu?

Nhộn nhàng trong cuộc bể dâu,

Xuân xanh mới đó, bạc đầu rồi đây…

Ba vạn sáu ngàn ngày công khó

Chia phần riêng cho đó một hòm

Của tiền để lại nhi tôn

Bao nhiêu tội lỗi phần hồn lãnh riêng.

Chốn cửu tuyền khác miền dương thế

Quỷ ngưu đầu không nể chẳng kiêng

Tội hành nghiệp khảo liền liền

Bao lần thảm độc, bao phen đoạn trường…

 

Rất thảm thương là đường sanh tử

Dám khuyên người ngó thử lại coi

Thân như pháo đã châm ngòi

Nổ vang một tiếng rồi coi thể nào?

Tiếc công lao biết bao xiết kể

Sự đáo đầu cũng thế thì thôi

Trăm năm sự nghiệp phủi rồi

Mênh mông biển khổ luân hồi cực thân.

Lửa hồng trần rần rần cháy dậy

Người say mê nếu thấy phải kêu

Tĩnh tâm xét lại mấy điều

Trước tu đạo đức, sau siêu linh hồn.

Sự dại khôn, chẳng cần khôn dại

Trước lỗi lầm sau phải ăn năn

Biển sâu nước khỏa còn bằng

Mây tan gió tạnh bóng trăng sáng lòa.

 

Cõi Ta-bà có tòa Cực Lạc

Dòng sông mê biển giác chẳng xa

Y theo giáo pháp Thích Ca

Tự nhiên bổn tánh Di Đà phóng quang!

Đã gặp đàng chưa toan dời bước,

Còn tiếc chi chân bước lờ đờ?

Khuyên đừng đem dạ tưởng mơ

Trăm năm cuộc thế như cờ bị vây.

Rút gươm huệ dứt dây tham ái

Lấy tâm thần lấp ải sông mê

Nương theo cội giác Bồ-đề

Trước sau rồi cũng đồng về Tây phương.

 

Khuyên tất cả các hàng nam nữ

Kíp tầm thầy thọ chữ “Quy y”

Kiên trì Ngũ giới, Tam quy

Giữ lòng từ mẫn, sân si phải chừa

Diệt ác quấy, ngăn ngừa tội lỗi

Dưỡng tinh thần, tâm nội phát minh

Đạo mầu bí nhiệm huyền linh

Là phương giải cứu chúng sinh phản hồi.

 

Nghĩa chữ Tam là ngôi Tam Bảo

Phật, Pháp, Tăng chỉ tại lòng ta!

PHẬT là giác tánh soi xa

Mở đường sáng suốt vượt qua cõi trần.

Nghĩa chữ PHÁP giải phần chánh kiến

Dứt kiêu căng, bỏ chuyện thị phi…

TĂNG là chủ tịnh tinh vi

Sáu căn trong sạch, dung nghi thuận hòa.

Vận Tam Bảo lấy ra đối trị

Dứt sáu trần tức thị chơn tu!

Còn như bỉnh tức công phu

Luyện tinh, hóa khí, rèn tu nguyên thần.

 

Nghĩa Tam Bảo phân trần chỉ rõ

Người tu hành lấy đó thềm thang,

Còn câu Tam Bảo thế gian

Chia ra thể, dụng, đôi đàng phân minh:

PHẬT BẢO là tượng hình ra đó

Để phụng thờ lòng có đức tin,

PHÁP BẢO gồm Luật, Luận, Kinh

Bản đồ vẽ sẵn phân minh chỉ rành,

TĂNG BẢO là lòng thành thoát tục

Chán sự đời cạo tóc đi tu

Cửa thiền tinh tấn công phu

Chí tâm được đến Vô dư Niết-bàn.

 

Nghĩa Tam Bảo thế gian là đó

Nhờ có thầy đường ngõ mới thông

Thầy như lạch nước lòng sông,

Nếu không lòng lạch nước trong bao giờ.

Mắt lờ mờ, tay rờ, chân bước

Thế vậy mà xông lướt sao xong

Quy y trước sửa tấm lòng

Có thầy chỉ giáo ra vòng tử sanh.

Có thể dụng mới rành đạo lý

Thấy trăng nhờ người chỉ cho ta

Chữ “Quy” phân bạch đó là:

Bỏ nơi hắc ám về nhà quang minh.

Nghĩa chữ “Y” như hình mặc áo

Trang tu hành Thánh giáo phải tuân

Trau dồi đạo đức sáng trưng

Nước không xao động ló vầng trăng thanh.

 

Trong Ngũ giới, sát sanh thứ nhất

Người tu hành thể đức háo sanh

Vật, người một khí hoá thành

Chớ nên sát hại mất danh thiện từ.

Giới thứ hai: diệt trừ trộm cắp

Vật của người chẳng đặng tham lam

Công, tư của cải bạc vàng

Chớ nên móng ý lấy làm của ta.

Giới thứ ba: cấm tà sắc dục

Chớ tư tình lén lút ngoại duyên

Trăng hoa lòng chớ đảo điên

Tam cang cũng phải răn khuyên từ từ…

Giới thứ tư: dứt trừ vọng ngữ

Chớ buông lời hung dữ điêu ngoa

Ngược xuôi láo xược lời ma

Nói qua nói lại cùng là hung hăng…

Giới thứ năm: cấm ngăn uống rượu

Việc lỗi lầm bởi tửu mà ra

Say sưa mê muội lòng tà

Dữ hơn thuốc độc, phá nhà hư linh…

 

Lấy Năm giới sửa mình là đạo

Dụng Tam quy kiến đạo Pháp thân

Từ Bi Hỷ Xả là nhân

Tinh tấn là quả, giải phân rõ ràng.

 

Nghĩa chữ Đạo như đàng đi đó

Song đàng đi chẳng có bao lâu

Dẫu mà ngàn dặm cao sâu

Mối đường bắt đặng ngõ hầu chẳng xa.

Chớ bôn ba nhận ma tác Phật

Uổng công trình, chôn mất tánh linh

Than ôi, biển khổ minh minh

Người mù cầm lái đưa mình sao xuôi!

Đứa mù dắt lũ đui theo dõi

Sa lửa hầm còn hỏi chi chi…

Phải tìm đến bậc trí tri

Đạo mầu mới tỏ, đường đi mới tường.

 

Bát chánh đạo mối đường đã trổ,

Tứ diệu đề là chỗ nghỉ ngơi,

Đèn lòng soi sáng khắp nơi

Thinh thinh trí huệ một trời quang minh.

Đọc Tâm Kinh cho tinh cho suốt

Dẫu mà đường chưa thuộc cũng thông

Vậy hay sắc tức thị không

Chẳng nên chấp sắc mà không cũng đừng.

Đạo vô cùng, chấp trung là đạo

Lý nhiệm mầu uẩn áo thâm sâu

Đạo mầu khắp hết đâu đâu

Cứ trong sắc tướng tìm cầu mới ra.

Tuy sắc tướng, nhưng mà vô tướng

Vô tướng từ hữu tướng mà ra…

Hữu, vô chung ở một nhà

Chẳng nên chấp hữu cùng là chấp vô.

Trong hữu tướng, lý vô ẩn đó

Vô tướng mà tướng có ẩn trong

Hữu, vô bước khỏi hai vòng

Mới biết đạo lý không trong không ngoài.

 

Thỏ vảnh tai gọi hai sừng đó

Chấp trước mà nói có nói không

Thử coi ba thú qua sông

Ba xe ngoài cửa đều không khác nào.

Ngoài vườn lửa ào ào cháy dậy

Bầy trẻ thơ chơi nhảy trong nhà

Khuyên răn chúng chẳng chịu ra

Mở lời phương tiện thiệt ba xe ngoài.

Đại biện tài trừ hai còn một

Tột bậc rồi thì một cũng không!

Xưa nay sự lý viên dung

Cứ trong thể dụng Thích trung thì nhằm.

 

Y tam giáo khỏi lầm lạc lối

Tu trở về nguồn cội bổn nguyên

Đạo vàng thâm lý diệu huyền

Định lòng, định tánh tỏ liền tâm đăng.

Nước gợn lằn, bóng trăng nhấp nhoáng

Trăng lu mờ vì áng đám mây

Làm cho nước đứng mây tan

Tự nhiên sáng suốt thiền quang nhiệm mầu!

 

Đạo không cầu do đâu mà được?

Coi giấy xưa chấp trước hữu, vô

Lằn mằn dưới gốc cây khô

Mà trông có trái gẫm âu nực cười!

Trong mắt người có ngươi mới tỏ,

Sách không thầy mới ngỏ làm sao?

Xưa nay giáo pháp truyền trao

Không thầy há dễ mặt nào nên thân.

Xưa Thánh nhân ân cần Lão Tử,

Huỳnh Đế còn xử sự Quảng Thành,

Thiện Tài ngũ thập tam tham,

Thiếu Lâm đoạt lý Thần Quang lưu truyền…

Xem lịch sử tiên hiền, cổ Thánh

Biết bao phen khổ hạnh công dày

Vẹt đường mở lối chông gai

Hố hầm bồi đắp đến nay cũng nhiều

Sửa lộ cả, bắc kiều rước khách

Chèo thuyền từ cấp bách đưa sang

Đáo hoàn bổn quốc Tây phương

Hưởng thọ vĩnh kiếp thanh nhàn muôn thu…

 

Người chí quyết tìm tu học đạo

Cầu hỏi thầy vật báu ở đâu?

Đạo tuy rộng lớn cao sâu

Nhỏ hơn mảy bụi dễ hầu biết sao!

Muốn cho khỏi ra vào tam giới

Phải nhớ câu “Tự tại bất thành”,

Nhơn tay mới thấy trăng thanh

Chớ chấp văn tự tu hành uổng công.

Nên cổ đức có ông Tông Bổn

Vịnh sơn cư có bốn câu rằng:

“Sơn cư phong cảnh tự thiên nhiên

Đại đạo chi chiêu tại mục tiền

Bất thức tổ tông thâm mật chỉ

Đồ lao niệm Phật dữ tham thiền.”

Ấy là cặn kẽ bảo khuyên

Phải cầu giáo ngoại biệt truyền diệu tâm,

Chớ chấp trước thinh âm sắc tướng

Cảnh ngoại cầu vọng tưởng đảo điên!

Kính lời khuyên khách hữu duyên

Biết nghe chỉ đạo chớ phiền lời ngay…

 

TẦM SƯ NGỘ ĐẠO

 

Tôi dốc lòng tầm đạo đã lâu

Ngày đêm thổn thức mãi lo âu

Liệu toan đạo cả cho tròn vẹn

Nay gặp đạo chơn rất nhiệm mầu

Tầm đặng minh sư Ngài chỉ điểm

Chơn truyền khẩu thuyết thật cao sâu

Từ nay cố gắng chuyên tu niệm

Chắc thấy Như Lai, khỏi vọng cầu.

 

HAM MUỐN

 

MUỐN LỢI THAM DANH trí rộn ràng

HAM tài đắm sắc táng thiên cang

HAM mùi phú quý thân lao khổ

MUỐN cảnh lầu đài dạ xốn xang

MUỐN miếng đỉnh chung đầy khổ não

HAM tên bia bảng lắm gian nan

HAM nhiều ruộng đất người người oán

MUỐN tử tôn đa, lắm nghiệp oan!

 

DIỆT LÒNG HAM MUỐN

 

Không HAM chẳng MUỐN có chi phiền

Chẳng MUỐN không HAM thế mới tiên

Chẳng MUỐN lửa lòng đều diệt sạch

Không HAM vật chất hết tiền khiên

Không HAM tước vị đời tự tại

Chẳng MUỐN quyền oai bậc đại hiền

Chẳng MUỐN sắc tài thân vĩnh viễn

Không HAM khoái lạc sống trường miên.

 

TIẾP HỌA BÀI II     

 

Không HAM chẳng MUỐN dứt ưu phiền

Chẳng MUỐN tình đời đứng bậc tiên

Chẳng MUỐN lợi danh xa khổ não

Không HAM vật chất hết tiền khiên

Không HAM phú quý hàng tri kỷ

Chẳng MUỐN công hầu bậc Thánh Tiên

Chẳng MUỐN cõi trần tu giải thoát

Không HAM tửu sắc sống trường thiên.

 

TÌM ĐƯỜNG THOÁT TỤC

 

Nhất điểm sương tàn bóng xế qua

Tu hành mau kíp trở về già

Công danh cái thế sanh tâm mị

Phú quý kinh nhân dục tánh tà

Vạn tử thiên sanh trầm địa ngục

Nhất đao lưỡng đoạn lụy giang hà

Cảnh trần nhơ bợn đừng mê mết

Thoát tục tầm tiên chớ đợi già.

 

KHUYÊN NHÂN THẾ

(Khoán thủ)

 

TU hành thành Phật tác Tiên

THÂN tâm thanh tịnh cần chuyên đạo mầu

GIẢI rành nghĩa lý cao sâu

THOÁT ra biển khổ bái chầu Như Lai

THỌ là vâng giữ chẳng sai

TAM tâm phóng khứ thâu lai định thiền

QUY về cảnh Phật-đài liên

TRÌ lòng khăn khắn mối giềng cho xong

NGŨ căn là giặc ở trong

GIỚI luật gìn giữ gắng công trau mình

TỊNH tâm thì tánh phát minh

TAM thừa cửu phẩm tự mình suốt thông

NGHIỆP trần dứt bỏ đừng mong

TRỪ rồi ma chướng thành công phỉ tình

LỤC môn thanh tịnh mới xinh

CĂN lành gặp đạo sửa mình quy y

DIỆT trừ phiền nào sân si

LỤC căn đừng tiếp vật gì mới thanh

TRẦN duyên đừng để phát sanh

HÀNH theo Bát chánh tâm lành huệ khai

LỤC trần là nẻo góc gai

ĐỘ qua kẻo đọa mất rày bổn linh

PHÁT sanh Phật tánh tột xinh

LỤC thông biến hiện giữa mình rất hay

THÔNG minh kiến tánh Như Lai

THOÁT ra tam giới đến đài Liên hoa

VÒNG quanh bái kiến Di Đà

LỤC minh chiếu diệu sáng lòa bốn phương

ĐẠO mầu như ánh triêu dương

TĂNG thêm quả giác phô trương đạo lành

SĨ hiền phổ hóa quần sanh

GIÁC mê khai ngộ ban hành lý chân

NHIÊN Đăng một ngọn sáng bừng

Soi đường dắt khách thoát trần lên tiên.

 

HỒI TÂM TỈNH NGỘ

 

Y vàng phất phới khắp mười phương

Thức tỉnh ai ơi giấc mộng trường!

Bể khổ Ta-bà nơi giả tạm…

Bồng Lai, Cực Lạc thật quê hương

Chơn như bổn tánh trường tồn mãi

Danh sắc tài hoa sự bất thường

Ai sớm kết duyên cùng Chánh pháp

Được về bái Phật ở Tây phương.

 

ĐỜI TỰ TẠI

 

Danh lợi làm chi phải bận lòng

Sao bằng thong thả cửa thiền không?

Đèn trăng quạt gió, say mùi đạo…

Chiếu đất màn mây, lánh bụi hồng

Phú quý vinh hoa dường tuyết gá

Công danh gẫm lại tợ sương đong

Ngoài tai chẳng tiếng lời mai mỉa

Trong sạch tự nhiên thoát cõi hồng.

 

TIẾNG CHUÔNG CẢNH GIÁC

 

Già-lam thắng cảnh xứ Di Đà

Chánh pháp giáo truyền Phật Thích Ca

Khất sĩ ra đời dìu bá tánh

Du Tăng xuất hiện độ Ta-bà

Hỡi ai chìm đắm nơi trần lụy!

Sớm khá quay đầu khỏi đọa sa

Đất khách hồng trần nơi giả tạm

Thiên đường Phật quốc thật nhà ta.

 

Quay đường hướng thiện lánh đường u

Gắng chí trau dồi một chữ Tu

Tháo mở lưới trần duyên trói buộc

Thoát ra cho khỏi thế gian tù

Sắc, tài, tửu, khí càng say đắm

Bổn ngã mê lầm khổ vạn thu

Ngọn đuốc Nhiên Đăng soi nẻo tối

Vẹt tan đường lối ánh mây mù!

 

Mây mù che ánh sáng trời hồng

Vật chất bao vây ám muội lòng

Khi sống tạo thành muôn sự nghiệp

Thác rồi cũng một nắm tay không

Công danh phú quý đem sao đặng

Chỉ có nghiệp duyên chất chập chồng

Quyến thuộc thân bằng nào cứu được

Nương về đạo đức hỡi còn trông.

 

HỰU

 

Còn trông chi nữa kiếp vô thường

Cuộc giả vì mê phải lạc đường

Sáu nẻo luân hồi càng đảo lộn

Ba đường ác đạo mãi còn vương

Bồng Lai là chốn nơi an hưởng

Cửu Phật từ bi khá dựa nương

Khói đóng đèn lòng lau thiệt sạch

Lần lần sáng rỡ tợ như gương…

 

Gương chiếu bao la ánh sáng ngời

Đưa người duyên khách giữa dòng khơi

Đường lên qua đến Tây phương cảnh

Nẻo xuống ngục hình khổ lắm ơi!

Khuyên khách đua chen mau tỉnh ngộ

Đeo chi cuộc thế chịu đầy vơi?

Sớm mau phủi hết tâm trần tục

Cửa Phật nương về được thảnh thơi.

 

Cửa Phật nương về được thảnh thơi!

Pháp môn mở rộng độ người đời

Phong trần nước cuộn ai trồi hụp?

Biển khổ ba đào kẻ lội bơi

Đuốc huệ thuyền từ kề bến tục

Độ người thoát khỏi giữa dòng khơi

Mau mau thức tỉnh đêm trường mộng

Gươm bén lưới trần sớm dứt rơi!

 

GẪM SỰ ĐỜI

 

Cuộc trần thế dường như mộng ảo!

Danh mà chi lợi lắm mà chi?

Bã công danh, bọt nước có ra gì?

Mùi phú quý vầng mây tan hiệp…

Giàu đến đâu cũng hưởng một kiếp

Sang cho lắm cũng trong một đời

Cái tuổi xuân đeo đuổi con người

Thân tứ đại lấy đâu bền chắc?

Kìa sanh tử thấy liền trước mắt

Đám cô phần đa thị thiếu niên “thân”

Cái thân này là cái giả thân

Nay còn đó ngày mai không chắc!

Phần nỗi bịnh, nỗi già thắc mắc

Sống trên đời sống được bao lâu

Thấy mày xanh kế đã bạc đầu…

Rồi lại đến quan khâu một nấm

Tam thốn khí tạo thiên ban dụng,

Nhất đán vô thường vạn sự hưu!

Muôn việc đều do mấy tấc hơi

Hơi vừa dứt cuộc đời đã dứt

Nào của cải, vợ con, tài vật

Nhắm mắt rồi cũng nắm tay không

Nghĩa tào khang ít kẻ bền lòng

Đành cải tiết dạ mong chồng khác

Để con dại mặc người hành phạt

Thấy cuộc đời nghĩ lại buồn tanh

Hết mê danh, mê lợi, mê tình…

Toan mượn thú già-lam phong cảnh

Gẫm sự thế vui gì tranh cạnh?

Thêm gây tình vợ vợ con con?

Thà sớm khuya vui thú nước non!

Chiều lại niệm A Di Đà Phật…

Mong giải thoát khỏi vòng vật chất

Sợ luân hồi yểm cựu hành vi

Ở thế gian nhiều nỗi thị phi

Vào cửa Phật từ bi hỷ xả

Qua biển khổ nương thuyền Bát-nhã

Rửa bụi trần cậy nước Ma-ha

Chốn mê đồ chìm đắm đọa sa

Về Tịnh độ vui miền Cực Lạc

Vong niệm đặng mới là chánh giác

Cõi Ta-bà Bồ-tát cũng xinh

Đừng ham chi cuộc thế hiển vinh

Bọt nước hiệp rồi tan nháy mắt

Chốn hồng trần có chi là chắc

Sanh giả không, rồi tử giả không

Thương những người gà gáy ngõ đông

Muôn vạn sự thảy đồng tiêu tán

Bóng quang âm lẹ thôi nhấp nhoáng

Kiếp phù sanh gẫm lại bao lâu

Người đời vì chất ngất non sầu

Sầu con vợ, sầu vườn, sầu đất

Sầu ít đặng tiền tài hóa vật

Sầu cháu con cờ bạc hoang đàng

Sầu mình sao chẳng đặng cao sang

Sầu chưa có nhà ngang dãy dọc

Sầu trộm cướp khỏ đầu khỏ óc

Sầu túi tham chẳng đặng đầy then

Sầu toan mưu đoạt thổ tranh điền

Sầu khoét lỗ, đào hầm hại chúng…

Sầu kiếm chước gây đường tranh tụng

Sầu xúi mưu làm loạn chẳng yên

Có mấy ai sầu học thần tiên

Phế của cải phàm thân cho đáng

Đời hạ nguơn là đời ly loạn

Phải mau mau trảm đoạn trần duyên

Nếu dần dà với chữ kim tiền

Thời cam lụy thân tâm tánh mạng

Vừng nhật nguyệt là thoi tử hạng

Lời xưa rằng thất thập lai hy!

Nhơn sanh tuy hữu bá niên kỳ

Cho hay vậy cũng là lao lực

Tuy ở thế sao cho thoát tục

Học Trương Lương lại với Hy Di

Sách chữ rằng: Sanh ký tử quy…

Ai có biết quy ư hà địa?

Chẳng nhớ câu “Đọc thư cầu lý”

Lý chẳng cầu mà đọc làm chi

Luận cho rành nghĩa lý huyền vi

Tận tánh mạng mới là thoát tục

Người đạo đức lóng trong gạn đục

Trời công bình phước thiện họa dâm

Đừng bày chi những máy cao thâm

Hàm huyết phúng nhơn ô tự khẩu

Dầu là người cao phi viễn tẩu

Khôi khôi thiên võng cũng nan đào

Ngoảnh mặt xem trong cõi trần lao

Đô thị giả có chi là thiệt?

Học Phật Tiên ngao du tuế nguyệt

Ẩn ngọc hồ tiếu đạo càn khôn

Buồn cuộc đời vui đạo chí tôn

Say Bát-nhã thấm mùi Cực Lạc

Lượn sóng biển gọi lòng Bồ-tát

Dòng sông ngân là nước Ma-ha

Rượu Tào Khê vài chén xì xào

Phú huỳnh hạc mây câu thong thả

Tu cần phải biết phân chơn giả

Cây trong rừng có quế có vông

Sao chẳng coi lấy nước dưới sông

Phải cũng có mùa trong mùa đục

Người quân tử thi thơ học túc

Học túc thời có lẽ phá ngu

Lời khuyên cùng tất cả danh nhu

Rán nghiệm lý lần hồi sửa lại

Tự thức tỉnh sớm mau hối cải

Tu thân thì Phật vốn nơi tâm

Chớ đâu xa nhọc sức mà tầm

Khuyên người gắng y lời chỉ giáo

Tu tâm luyện tánh sẽ hoàn nguyên

Đạo pháp vô vi tối diệu huyền…

Rước kẻ hữu căn hồi trở lại

Nương thuyền Bát-nhã đến Tây thiên.

 

TRƯỜNG ĐỜI MỘNG ẢO

 

Rừng đời nhiều nẻo chông gai

Hỡi ai là khách Bồng Lai xuống đò?

Sẵn sàng thuyền huệ thơm tho

Bần Tăng chịu khó đưa cho đến bờ.

 

Sanh trên cõi tạm sống chơi vơi!

Già trẻ trước sau chẳng ở đời

Nhơn vật thạnh suy không lại có

Thời gian thay đổi khắp cùng nơi

Công hầu hạn định ba vuông đất

Sản nghiệp chỉ tồn một tấc hơi!

Trong cõi Ta-bà toàn những khổ

Tu về Tịnh độ thảnh thơi chơi!

 

Vui đùa giỡn bóng, bóng về Tây!

Còn chẳng hồi tâm thoát kiếp này

Phú quý như sương đeo ngọn cỏ

Vinh hoa tợ tuyết gá cành cây

Tử sanh ví thể đèn trước gió

Tánh mạng tựa hồ nguyệt giữa mây

Công luật bao trùm ai nhảy khỏi

Lưới trời bủa khắp khó cao bay.

 

Nhơn sanh chìm đắm giữa sông mê

Tỉnh ngộ sớm mau bước trở về

Nghĩ lại cuộc đời ôi! Lắm khổ

Sao bằng Cực Lạc cảnh nhàn quê.

 

RÈN LÒNG KIÊN NHẪN

 

Muốn được người trở nên đạo đức

Thì dày công khổ cực biết bao

Những phương lập chí thanh cao

Cho thông suốt lý tạo đào tâm chơn

Lập một nước dễ hơn truyền giáo

Truyền dạy người đắc đạo khó thay

Biết bao kèm sửa đêm ngày

Làm nên Tiên Phật rất dày công phu

Đây là hạnh người tu luyện đạo

Đoạn dứt lòng gian xảo kiêu căng

Miệng không hay nói chuyện xằng

Ngồi lê đôi mách cằn nhằn người ta

Phải nắm giữ hiệp hòa kiên nhẫn

Tịnh tâm lo bổn phận làm người

Lỗi lầm thiên hạ chớ bươi

Xấu xa mê muội đừng cười chê khen

Lần hồi tập cho quen tánh cách

Giữ tấc lòng trong sạch hoàn toàn

Mặc tình ai thói dọc ngang

Những điều quấy quá chớ mang vào mình

Lo đóng cửa luyện hình vóc Phật

Đối mọi người chân thật mến yêu

Quanh co thuyền phải theo chiều

Người trong một đạo dắt dìu giúp nhau

Đừng cậy thế quyền cao chức trọng

Đừng ỷ giàu kiệu lọng nghinh ngang

Ta dầu một bậc Thánh hoàng

Biết tu xem tợ như hàng con dân

Người hiền đức không cần danh vọng

Làm thì ưa công cộng hiệp hòa

Kính người quên phứt đến ta

Tự nhiên thanh tịnh vọng tà bất sanh

Theo chơn lý lưu hành hạp đạo

Gom ngũ quan rèn tạo kim thân

Tuy là lẫn lộn hồng trần

Mà lòng đạo đức không cần lợi danh

Cây đại thọ đơm cành nảy tược

Tốt tươi nhờ rưới nước bón phân

Tu cho mau phát tinh thần

Thì lo luyện đạo siêng cần ngày đêm

Biết đạo chớ nói thêm nói bớt

Tội lỗi người đỡ vớt chở che

Nhiều cây mới kết nên bè

Anh em chung trí đồng hè nhau tu

Phá cho đặng khám tù thế tục

Diệt cho tiêu lòng dục tánh phàm

Những điều ưa chuộng mến ham

Ta nên dứt bỏ túi tham cho rồi

Thoát khỏi chốn luân hồi nghiệp báo

Chỉ tận tâm với đạo, cứu cho

Trần gian nóng tợ lửa lò

Hơi bay nực nực đen mờ khói un

Hít vào thì ngây cuồng mê muội

Mất trí khôn lầm lũi đường tà

Khói un độc địa thay là

Nhẫn kiên là chén thuốc hòa cứu nguy

Nên hạ mình kỉnh vì chúng bạn

Đức hạnh tròn chói sáng mọi nơi

Lời khuyên để lại răn đời

Dọn mình thanh nhẹ mới thời thung dung

Lo lập chí vẫy vùng cơ hội

Cứu vớt người lặn lội bến mê

Tình đời cần phải chán chê

Đừng mang những gánh nặng nề ai trao

Lấp biển khổ làm sao lấp đặng

Xô thành sầu khó hẳn mà xô

Người người lâm bịnh ngây ngô

Chúng ta hiệp lại lấp xô khó gì

Biết đạo đức chịu lì với đạo

Để quỷ ma nó khảo mới cao

Phổi gan trải mật anh hào

Đại hùng đại lực mới vào cảnh tiên

Diệt bản ngã bỏ quyền dùng lý

Khử tư tâm hiệp ý đại đồng

Làm cho thế giới lưu thông

Dồi trau đức hạnh tấm lòng phát minh…

Còn chớ nói rằng mình hay giỏi

Thì ta đâu còn gọi người hiền

Người hiền trầm mặc ổn nhiên

Thuỷ triều vận tải căn nguyên đức tài

Lời nhắn nhủ miệt mài kiên nhẫn

Kiên nhẫn là bổn phận người tu

Lưỡi mềm khó gãy lắm ru…

Răng tuy cứng chắc mặc dù, gãy hư.

 

CHỮ NHẪN

 

Nhẫn là quý báu tự xưa nay

Học đạo cần nên chí nhẫn hòai

Đời loạn khá tu gìn nhẫn nhục

Đạo thành cũng bởi nhẫn hòa dai

Trăm năm tạc sử lòng kiên nhẫn

Ngàn kiếp lưu danh nhẫn ấy tài

Khuyên hỡi ai ai nên nhẫn nại

Nhẫn hòa là quý, chí đừng sai.

 

CHỮ HÒA

 

Hòa là bước đến nấc thang cao

Hòa hiệp cần chuyên giữ một màu

Hòa trước sửa mình cho vẹn vẻ

Hòa sau sự thế khổ đừng nao

Hòa cùng khắp cả là yêu đạo

Hòa hết mọi nơi khỏi nhọc lao

Hòa biết mến yêu đồng chí hiệp

Hòa chung thế giới, phước trời trao.

 

CHỮ NHỊN

 

Nhịn điều sỉ nhục tấm thân yên

Nhịn việc hơn thua tránh lụy phiền

Nhịn kẻ thiểu căn lòng đại độ…

Nhịn mầm dục vọng đắc Thần Tiên.

 

CHỮ NHỤC

 

Nhục tiếng hơn thua có hại gì?

Nhục là sửa tánh diệt sân si

Nhục trau tâm đạo cho bền chí

Nhục ấy cũng là mức cử thi.

 

TIẾNG NHẠC LÒNG

 

Tiếng đàn reo trổi du dương

Ngày đêm không nghỉ, dặm trường thở than

Thương kiếp sống chẳng đầy gang

Đấu tranh đau khổ chứa chan lụy sầu

Cội nguồn sanh tử bởi đâu

Lý do tồn tại ai hầu rõ chi?

Tang thương biến đổi chia ly

Vui trong đau khổ vui gì mà tranh?

Ái tình hạnh phúc mỏng manh

Chuông to buộc sợi chỉ mành bao lăm

Sự đời như gió thăng trầm

Thoát qua dường thể dư âm tơ đồng

Canh tà hiu hắt gió đông

Nỉ non gió rỉ trong lòng ngâm nga

Hỡi cùng tất cả gần xa

Biết chăng tiếng gió thiết tha u buồn

Nhìn xem thấy chúng si cuồng

Ưu tư thất vọng lệ tuôn khôn cầm

Bởi ham ảo ảnh hôn trầm

Cứ mò đáy nước mà tầm mặt trăng

Kiếp người ngắn ngủi bao lăm?

Băn khoăn nước chảy mây giăng lưng trời

Hỡi rằng này chúng sanh ơi!

Khá tua tỉnh giấc cứu đời lâm nguy

Hãy chỗi dậy, tiến bước đi

Kíp mau giải thoát, từ bi trau mình

Vì bác ái quên ái tình

Xả thân phổ độ chúng sinh khổ nàn

Tìm nương theo Ánh Đạo Vàng

Sau thành chánh quả Niết-bàn nghỉ ngơi.

 

KIẾP SỐNG MỎNG MANH

 

Phù dung sớm nở tối rồi tàn

Cái kiếp con người vắn tợ gang

Phú quý công danh dường lửa nháng

Tồn vong vinh nhục thể mây tan!

Rạp trần ẩn hiện tuồng mơ đoản

Trường thế đeo đai giấc mộng tràng

Bể hoạn chập chờn bao kẻ đắm

Luân hồi sao khỏi mối dây oan.

 

LUÂN HỒI và NHƠN QUẢ

 

Nợ nhơn quả lấp vùi tánh đức

Biết ngày nào gỡ dứt tiền khiên

Trả vay vay trả liền liền

Nhơn nào quả nấy nghiệp nhơn buộc mình

Bóng cong vạy tại hình cong vạy

Tội phước đi qua lại không chừng

Xác phàm sung sướng vui mừng

Linh hồn phải chịu bâng khuâng não phiền

Gieo giống chi mọc liền giống nấy

Cảm vật nào vật ấy ứng cho

Coi như trong cái xe bò

Bánh xe lăn trả kịp giò bước chân

Bò dừng lại, bánh ngừng đứng lại

Chậm hay mau cũng tại con bò

Bánh xe nó chạy theo giò

Chạy không cũng tại con bò gây ra

Xét lỗi người, lỗi ta ai xét

Sương nhà người, người quét đặng thôi

Muốn mau thoát kiếp luân hồi

Kiếp này rán chịu quả nhồi cho mau

Đời cũng có nghèo giàu cao thấp

Tại nơi người tạo lập nó ra

Rồi than oán trách trời già

Không ngờ ta chác lấy ta cho nhiều…

Lòng tham dục bao nhiêu cho đủ

Để thất tình làm chủ lấy tâm

Khiến gây tội ác lỗi lầm

Người chưng mắc phải vướng nhằm khổ nguy

Lòng quấy quá tráo chì thay bạc

Mỏi mong lo lường gạt của đời

Không dè mắc phải lưới trời

Thưa mà chẳng lọt chuyện người mảy lông

Luật báo ứng pháp công thưởng phạt

Hành hồn rồi, hành xác chẳng chơi

Nhơn nào quả ấy chẳng rời

Đòn cân công lý Phật Trời thưởng răn

Đặng quả ngon thì ăn, lấy hột

Gieo lại mà mai mốt còn ăn

Nhược bằng hưởng trái hột quăng

Ngày sau thèm khát xin ăn nhà người

Nay đắc thế vui cười chi lắm

Sau suy thời bụi bặm lấp thân

Biết lo bố đức thi ân

Luân hồi trở lại hưởng phần cao siêu

Đường quanh quẹo theo chiều mà bước

Chí tâm bền thì được thành công

Làm cho đạo pháp lưu thông

Lập tâm sửa tánh bền lòng phá mê

Kìa biển hẹn non thề phải dứt

Dây buộc mình cắt đứt chớ vương

Nhu thắng cương, nhược thắng cường

Mềm còn, cứng bể; thế thường xưa nay

Họa phước ấy không sai báo ứng

Muộn kiếp này gieo chứng hậu lai

Người tài lại gặp kẻ tài

Ỷ tài phải chịu nạn tai hòai hòai

Điềm họa phước không hay tìm tới

Tại mình vời nên mới theo mình

Cũng như bóng nọ tùy hình

Dữ lành hai lẽ công bình thưởng răn.

 

THỨC TÂM TỈNH NGỘ

 

Ham muốn lợi danh ở thế gian

Sao bằng chánh đạo hưởng an nhàn

Gà nhà lúa sẵn gần lò chảo

Hạc bởi không lương tự tại sang

Giàu có trăm năm gìn khó đặng

Luân hồi lục đạo khổ muôn ngàn

Khuyên người giác ngộ đường sanh tử

Để mất thân người khó nỗi an.

 

TUỒNG ĐỜI CHỚP NHOÁNG

 

Cuộc đời giả tạm chẳng bền lâu

Tuổi mới xuân xanh kế bạc đầu

Vạn vật vô thường không chắc thật

Muôn hình tiêu họa có gì đâu

Tỉnh mơ hồn điệp đừng say đắm

Thức giấc mê ly chớ vọng cầu

Khuyên hỡi khách trần mau giải thoát

Tu hành thấu đạt lý cao sâu.

 

Khuyên người giữ dạ rán cần tu

Giới luật rèn trau vẹt ngút mù

Bền chí gắng tu cho trọn kiếp

Sau về Lạc cảnh hưởng ngàn thu.

 

KHUYÊN THIỆN TÍN

 

Hỡi thiện tín các miền tịnh xá!

Rán giữ tròn bổn phận cư gia

Đồng tâm xây dựng chữ Hòa

Thương nhau như thể một nhà vui tươi              

Giữa rừng khổ ta người Cực Lạc

Nẻo tử sanh thấm thoát xoay tròn

Loanh quanh trong những đường mòn

Kể ra nhiều kiếp vẫn còn nơi đây

Nay may mắn gặp thầy hướng dẫn

Gom những ai lẩn thẩn trên đường

Hiệp thành một khối tình thương

Dắt người đến cảnh an khương hiện tiền

Hỡi thiện tín con hiền họ Thích!

Rán tôn thờ mục đích cần tu

Chớ nên chen lấn hiềm thù

Để rồi tan vỡ mịt mù khổ đau

Đừng vì lẽ tranh nhau thử thách

Mà bỏ ra phân tách đạo tràng

Thân này sống ở thế gian

Mấy ai giữ trọn hoàn toàn sạch trong

Những sơ sót nào hòng tránh khỏi

Bởi nhiều đời quen thói nhiễm mê

Hôm nay mới hướng trở về

Làm sao tâm trí chấp nê chẳng còn?

Nếu các pháp vẹn toàn thu nhiếp

Thì có đâu vướng kiếp luân hồi

Vào đây đồng phận con côi

Mở lòng yêu dấu chớ nhồi lẫn nhau

Nên hỷ xả vui chào rộng lượng

Đối kẻ thù hãy tưởng như ân

Khuyên lơn cải sửa từ lần

Đồng chung nâng đỡ gót chân Phật-đà

Được như thế mới là gương mẫu

Để cho đời soi thấu lối đi

Khỏi sa vào chốn hiểm nguy

Con đường bác ái từ bi sẵn về

Lần đến cội Bồ-đề tươi mát

Khắp đệ huynh hoan lạc phi thường

Chẳng còn chi phối tình thương

Nhờ nơi nhẫn nại hiền lương hiệp hòa

Hỡi tất cả ai là Phật tử!

Đã nghe qua rán giữ thật hành

Từ đây đừng có phân tranh

Yêu nhau dìu dắt chớ đành bỏ nhau

Dùng lời nói ngọt ngào dạy dỗ

Dứt hung hăng, thô lỗ, cộc cằn

Một niềm giữ trọn giới răn

Nêu cao Tam bảo Phật Tăng muôn đời

Gom kết lại đôi lời chấm dứt

Nguyện cư gia nỗ lực thi hành

Đạt nhiều kết quả cao thanh

Bồ-đề Chánh giác chóng thành an khương.

 

Kiên nhẫn gây nên Thánh đức tâm

Nhẫn kiên đạo đức nghĩ suy ngầm

Hiệp hòa chóng vững đường tên đạn

Hòa hiệp lâu ngày hỏa dục lâm…

 

MUỐN TU ĐỪNG HẸN

 

Thiên đàng, địa ngục chẳng bao xa

Học đạo nào so bậc trẻ già

Chống gậy kim cang men lướt tới

Cầm dây oan trái cởi lần ra

Hồng trần khổ hải là nơi tạm

Nhược thủy Bồng Lai mới thiệt nhà

Chớ gọi ruộng vườn chưa sắp đặt

Đời gần mạt kiếp, rán bôn ba!

 

HỒI CHUÔNG TỰ GIÁC

 

Lôi thôi lần lựa kế rồi già

Chậm trễ một ngày sẽ luống qua

Phật dạy định thiền soi ngũ uẩn

Tiên truyền luyện đạo kiến tam gia

Xuất vi Phật tử chơn huyền diệu

Thai sản anh nhi thật sáng lòa

Cảm ứng từ bi Tiên Phật dạy

Phật Tiên hiệp lại cũng chung nhà.

 

Chung nhà Tam bảo có đâu xa

Phật Thánh Tiên đồng cộng nhất gia

Tam bửu Ngũ hành Tiên đạo dạy

Tam quy Ngũ giới Phật truyền ra

Tam cang thường ngũ nơi Nho giáo

Ba lối chỉ mình nẻo chánh tà

Thích hợp lý chơn tìm lựa lấy

Phật, Tiên, Thánh cũng tự nơi ta.

 

Ta-bà dạo khắp độ nhơn sanh

Chánh pháp Như Lai gắng thật hành

Khất sĩ khi xưa La-hán đạo

Bần Tăng hiện tại cũng Vô sanh

Chơn truyền diệu pháp thông huyền bí

Y bát tinh vi Cực Lạc thành

Biển lặng minh châu thường hiển hiện

Ao sâu trong lặng kiến trăng thanh.

 

Trăng thanh phản chiếu tỏ nơi lòng

Học Phật tu Tiên phải lão thông

Tiên dạy huyền cơ nơi tịnh tánh

Phật truyền diệu pháp chỗ tâm không

Minh minh hàm dưỡng chơn tâm đủ

Yểu yểu thường nuôi bổn tánh đồng

Nhơn Thánh Phật Tiên đồng nhất thể

Khác nhau mê ngộ tại bên trong.

 

KHUYÊN NGƯỜI TỈNH NGỘ

 

Phàm, Tiên hai nẻo khác nhau xa

Đất Phật muôn năm tác chẳng già

Học đạo phải thông đường chánh giác

Tu hành cho rõ gốc Tiên gia

Mê man vật chất dường trăng lặn

Đắm đuối công danh bóng ác tà

Nhắn kẻ hiền lương cùng thiện sĩ

Quày thuyền bỉ ngạn rán chèo qua.

 

NGỪA LƯỚI MA VƯƠNG

 

Cảnh hạ giới tuy tuồng tráng lệ

Mà hiểm nguy thật kể không lường

Cảnh này là cảnh thử lòng

Ham mê thì phải mắc vòng tử sinh

Ma vương hiện nguyên hình đẹp đẽ

Phỉnh giác quan là để mê người

Làm mê tâm trí mà chơi

Gạt người rồi lại bỏ người bơ vơ

Con phù du hững hờ nào biết

Thấy bóng đèn thì quyết nhảy vô

Thương thay chết héo chết khô

Dĩa dầu hôm nọ là mồ phù du

Gặp Ma vương phải toan  kềm chế

Kéo mà làm nô lệ Ma vương

Bể trần nhiều nỗi thảm thương

Chúng sanh chìm nổi trong đường say mê

Ai muốn được trở về tiên cảnh

Thì mau mau xa lánh chúng ma

Đừng cho chúng ở trong nhà

Thanh tâm quét sạch lòng tà trước khi

Ngoài thì giữ nghiêm trì trai giới

Trong thì lo khêu gợi đèn lòng

Muốn nương thuyền giác qua sông

Coi chừng sóng sắc giữa dòng đáng ghê

Biết bao cội Bồ-đề sụp đổ

Vì chúng ma cám dỗ gạt lường

Muốn mau về đến Tây phương

Chớ nên tríu mến mà vương nghiệp trần

Đây đã lắm ân cần nhắc nhở

Vướng vô rồi khó gỡ lắm đa

Muốn làm Tiên Phật hay Ma

Đường thăng nẻo đọa do ta tự lòng.

 

HẠI CỦA SẮC

 

Sắc làm ngả nước với nghiêng thành

Sắc hại anh hùng mất tiếng thanh

Sắc tốt trào Thương hư hại nước

Sắc mê San Hậu rụi tan tành

Sắc là độc kiếm nên xa tránh

Sắc ấy ma đời báo chúng sanh

Sắc quá gớm ghê vì tích cũ

Sắc mà tham nhiễm chịu nhơ danh.

 

HẠI CỦA DỤC

 

Dục cảm suốt đời khổ lụy thân

Dục tình ân ái mãi xoay vần

Dục đa xác thể thêm tiều tụy

Dục lạc hư danh đạo cũng gần

Dục tánh luân hồi trong sáu nẻo

Dục tâm lên xuống triệu muôn phần

Dục lòng đau khổ không phương tả

Dục ý hết còn chỗ định phân!

 

HẠI CỦA TÌNH

 

Tình ái đứng đầu vạn khổ đau!

Tình nhân vướng phải lụy anh hào

Tình đời mặn, chát, chua, cay, đắng…

Tình thế đoạn trường biết nói sao?

 

CHỮ THỜI

 

Thời xưa đạo đức thấy mà ham

Thời thế hôm nay quá chán nhàm

Thời buổi chiến tranh vì tánh ác

Thời nay đau khổ bởi lòng tham.

 

CHỮ LỢI và NGHĨA

 

Lợi ánh vàng kho nhiều kẻ chọn

Nghĩa như ngọc ẩn ít người thông!

Lợi quyền danh ảo đời tranh đấu

Nghĩa dẫn người lên nấc đại đồng.

 

ĐẠO BẢO ĐẠO TỰ TRỌNG

 

Rần rần đạo nọ đạo kia ra

Người ở trên non, kẻ ở nhà

Kẻ thích Tiên gia lờn Phật pháp

Người mê Phật pháp ố Nho gia

Phái kia sắp đặt bồi giai cấp

Đạo nọ tranh đua biện chánh tà

Lăn lóc tưng bừng trong động tịnh

Khiến nên tam giáo rẽ chia ba.

 

Cắc ké, kỳ nhông cũng đạo đồng

Cớ sao khích bác hỡi kỳ nhông?

Lịch chê lươn nhớt, ai khen lịch?

Đước nói rùa hôi, đước ích không?

Qui tưởng qui sang, qui ngoảnh cổ

Phụng khoe phụng sướng, phụng xoè lông

Chi bằng giữ phận ai theo nấy

Khích bác làm chi phải mích lòng?

 

Bàng môn, chánh giáo mấy ai rành

Hay dở hàng ngày cứ luận tranh

Mình ốc chưa hay chê kẻ trược

Cục rêu chưa biết gọi mình thanh

Mau qua truông núi nhằm đường tắt

Trễ đến lư giang gặp nẻo quanh

Kẻ trước người sau rồi cũng đến

Mựa là mượn tiếng với mua danh.

Mê: thiên chấp đạo này đạo nọ…

Muôn đạo đều cũng có nơi tâm

Chúng sanh đa bịnh hôn trầm

Phật dùng nhiều pháp phương châm trị người.

 

THUYẾT MINH TỨ ĐẾ

 

Đấng Giáo chủ Thích Ca Phật Tổ

Ngài thuở xưa Ấn Độ giáng sinh

Lúc Ngài dạo bốn cửa thành

Thấy điều Bịnh, Tử, Lão, Sanh não nùng

Quyết rời bỏ hoàng cung tầm đạo

Thoát kiếp người áo mão cân đai

Sớm xa thê tử sắc tài

Diệt trừ loạn tưởng hàng ngày loạn tâm

Non Tuyết lãnh sáu năm khổ hạnh

Thân dãi dầu gió lạnh mưa chan

Đạo thành, độ khắp trần gian

Ngài đem chân lý chỉ đàng chúng sanh

Khêu đèn huệ tâm minh soi sáng

Máy huyền vi tỏ rạng nơi lòng

Từ bi bác ái đại đồng

Sống theo đạo lý thoát vòng quả nhân

Tứ diệu đề Ngài phân chỉ rõ

Khổ đề là bởi có huyễn thân

Khổ vì vật chất tinh thần

Chúng sanh phải chịu muôn phần đắng cay

Tập đề là chỉ ngay những chỗ

Các nguyên do, sự khổ gây ra

Vô minh vọng tưởng hành tà

Luân hồi quả báo vậy mà chẳng thôi

Diệt đề này là ngôi lật đổ

Phải tầm phương diệt khổ cho mình

Trau dồi bổn tánh chơn linh

Thoát ra biển khổ tử sinh sáu đường

Đạo đề là một phương huyền diệu

Chúng sanh nên xét hiểu cho rành

Phép mầu bất diệt bất sanh

Giữ theo chánh pháp thường hành chớ quên

Chánh kiến là cần nên độ lượng

Thấy rõ ràng tín ngưỡng mới ngoan

Chớ đừng xu hướng dị đoan

Sa nơi tà đạo lạc đường khó trông…

Chánh tư duy giữ đồng lý tưởng

Niệm chánh chơn bỏ tưởng vọng tà

Tinh thần thanh bạch điều hòa

Quy nguyên Tam bửu một nhà an vui

Chánh ngữ vốn vị mùi đạo hạnh

Lời nói ra chơn chánh dịu dàng

Khiến người đẹp dạ tâm an

Soi gương trí huệ tầm đàng quang minh

Chánh nghiệp khá giữ gìn xét nghĩ

Việc làm đừng ích kỷ hại nhân

Sát sanh trộm cắp chớ gần

Giữ theo Ngũ giới lập thân giúp đời

Chánh mạng là chẳng dời chẳng đổi

Sống vững vàng giữa buổi loạn ly

Thân tâm chẳng chút sầu bi

Quyết không phụng sự kẻ si mê nào

Chánh tinh tấn dồi trau viên giác

Biết phương hành giải thoát mê tân

Luyện thành xá lợi kim thân

Bồ-đề kết quả khỏi phần tử sanh

Chánh niệm này con in trí nhớ

Phải tận tâm giúp đỡ chúng sinh

Niệm niệm chơn chánh quang minh

Nhớ câu Lục tự tâm kinh chơn truyền

Chánh định là an nhiên lặng lẽ

Pháp tọa thiền chớ để loạn tâm

Điển linh sáng tợ trăng rằm

Bổn lai diện mục khỏi tầm đâu xa

Muốn thấu đáo rõ qua đạo chánh

Thì hãy cần kiến tánh minh tâm

Vạn pháp quy nhất thậm thâm

Như Lai khổ hạnh nhiều năm mới thành

Đây phân giải đành rành cặn kẽ

Cho tỏ tường lý lẽ cao sâu

Nguyện chung khắp hết hoàn cầu

Người người hướng thiện quay đầu về tu.

 

TỊNH TAM NGHIỆP

- Giữ Thân trong sạch hạnh phúc biết bao!

- Giữ Miệng trong sạch hạnh phúc biết bao!

- Giữ Ý trong sạch hạnh phúc biết bao!

 

Thân cùng Khẩu, Ý trọn lành

Xa lìa tội lỗi gần cành hoa sen

Ai mà Thân, Khẩu, Ý rèn

Giữ theo thiện nghiệp thân bèn đặng an

Ba nghiệp hằng đặng rảnh rang

Thác rồi nhập Thánh là đàng xưa nay

Bị mắng chửi, lòng chẳng phai

Với người tham lẫn giận gây chẳng sờn

Giữ mình thanh tịnh là hơn

Dầu ai gây oán chuốc hờn mặc ai.

 

CHỮ TU

 

Tu sao lìa khỏi cảnh sông mê

Tu gắng gìn tâm giữ trọn thề

Tu thoát luân hồi xa tục lụy

Tu bồi linh tánh lại nhàn quê

Tu trừ lục dục thân yên lặng

Tu tịnh chơn nguơn ngũ khí kề

Tu đắc kim thân tròn quả vị

Tu thành Tiên Phật Niết-bàn về.

 

CHỮ NHẤT

 

Nhất thiếu thông hề sự lý minh

Nhất tâm khai ngộ chuyển mê tình

Nhất thừa biệt tướng Như Lai hiển

Nhất tán vạn thù tận ý kinh

Nhất thiết độ nhân đăng bỉ ngạn

Nhất từ nhẫn nhục thị vô sinh

Nhất trần bất nhiễm đồng chư Phật

Nhất thiết giai không tổng đắc thành.

 

TỊNH THẤT CÔNG PHU

 

Sự thế mặc người, ta cứ tu

Lục căn đóng lại vắng êm ru

An phòng tịnh tọa công phu mãi

Lủi thủi trong am tợ ở tù.

 

Tù thế, tù tu cũng gọi tù

Tù tu tịnh mãi ấy công phu

Tù vô tư lự nên thường trú

Tù chẳng tham cầu: đấng trượng phu.

 

Phu chồng, phụ vợ, nợ oan khiên

Tù ở thế gian tội nhãn tiền

Tù nghiệp gây ra ta khó gỡ

Tù này muôn thuở chẳng ngồi yên.

 

Yên tâm tịnh tánh bởi tu thuyền

Tam bửu điều hòa dưỡng hạo nhiên

Ý phách thần hồn dồn một mối

Trọn ngày chí tối giữ căn nguyên.

 

Nguyên lai bổn thể tại cơ thiền

Động tịnh điều hòa hống hiệp diên

Bất thức, bất tri, vô lý sự

Phi lai phi khứ chưởng Thần Tiên.

 

Tiên, Phật giai do tự chính mình

Thánh, phàm, chơn, vọng bởi tâm sinh

Tâm ma, giả giả ma ma thịnh…

Tâm Phật, như như huệ huệ minh.

 

Minh quang rạng chói vĩnh trường tồn

Khai khiếu nê hoàn cửa đại môn

Thong thả ra vào nào có ngại

Về chầu thượng giới bái Thiên Tôn.

 

Tôn Phật, Thánh, Tiên đấng trọn lành

Đạo vàng khai hóa độ nhân sanh

Thoát vòng lục đạo tam đồ khổ

Chưởng phước tăng duyên đạo chóng thành.

 

Thành Phật tác Tiên bởi chỗ tu

Muốn tu ra khỏi thế gian tù

Cần nên đóng cửa trong ngoài kín

Sự thế mặc người, ta cứ tu.

 

Học đạo phải thông lý nhiệm mầu

Thành Tiên tác Phật tại song mâu

Minh sư chỉ điểm ngay chơn khuyết

Hiền đệ gắng hành chớ nệ câu

Tam bửu giữ gìn cho chí trọn

Ngũ hành Bát quái phải gồm thâu

Âm dương hiệp nhất quy trung khiếu

Chiết Khảm, điền Ly thoát khổ sầu.

 

Thua đời chẳng sợ, sợ thua tu

Tu kém công phu mắc ngục tù

Tù thế mất quyền làm tự chủ

Tù tu được hưởng cảnh nhàn du.

 

CHỮ NHỚ

 

Nhớ ơn phụ mẫu nghĩa sinh thành

Nhớ đến bạn, thầy chỉ mối manh

Nhớ lại công ơn bao tín chủ

Nhớ ân Tam Bảo gắng tu hành

 

CHỮ THƯƠNG

 

Thương người ẩn sĩ lánh bầy lang

Thương kẻ trung quân nát ruột gan

Thương trang hiếu đễ cùng liêm sỉ

Thương đấng bần Tăng dưỡng chí nhàn

Thương kẻ ôm lòng cam phận chịu

Thương người giữ dạ chẳng hề tham

Thương cơn nước lửa không dua nịnh

Thương nghĩa cù lao quá tuổi vàng.

 

CHỮ LIÊM

 

Liêm bình đời đạo rạng đai cân

Liêm sỉ nêu gương khắp cõi trần

Liêm khiết xa gần danh ích quốc

Liêm nhân trên thế nghĩa thân dân

Liêm hiền con cháu nhờ âm chất

Liêm trực cỏ cây gội đức ân

Liêm chánh nhơn loài hòa vạn vật

Liêm cần, cần tránh tánh tham sân.

 

CHỮ SĨ

 

Sĩ thú đồng ca khúc khải hoàn

Sĩ nhàn mừng hát bước vinh quang

Sĩ đời xây đắp đời bình đẳng

Sĩ đạo trau dồi cội phúc an

Sĩ khí rõ danh giòng giống Việt

Sĩ hùng cứu vãn nước nhà tan!

Sĩ dân nhuần gội ngày Nghiêu Thuấn

Sĩ nhập tràng thi hội Niết-bàn.

 

CHỐN SƠN LÂM

 

Trên rừng bốn phía lặng trang

Trước sau chẳng thấy thoáng ngang bóng người

Cảnh tình vui thích thảnh thơi

Đi đi lại lại tươi cười một ta

Phật Ngài vốn thích rừng già

Cùng là sư chúng muốn xa cảnh đời!

Tôi nay chí ý liệu rồi

Dốc lòng an dưỡng ở nơi rừng thiền

Nương mình trong chốn động tiên

Ngày ngày tu tập cho hiền tánh tâm

Một mình ở giữa sơn lâm

Hết khi tưởng đạo lại tầm xem hoa.

 

Ẩn mình giữa chốn núi rừng hoang

Gió thổi phất phơ bóng áo vàng

No đói, lạnh lùng cam phận chịu

Tuyết sương, mưa nắng chẳng hề than

Tối thì nhập định lâm sơn cảnh

Sáng lại hóa duyên xóm, chợ, làng…

Tạm sống tu hành nơi tĩnh mịch

Quyết thành chánh quả độ trần gian.

 

Sớm liệu nương mình chốn cửa Không

Đừng đem danh lợi buộc vào lòng

Đừng đem tình ái vương phiền lụy

Là lưới mê tân khó thoát vòng.

 

GIÁ TRỊ CỦA VÀNG THAU

 

Vàng đối cùng thau vốn khác nhiều

Thau vàng xa cách biết bao nhiêu!

Vàng cao sẵn đỏ dằn không tiếng

Thau thấp màu vàng lại gõ kêu

Vàng chẳng thau xen, vàng vẫn quý

Thau pha vàng, đổi giá không nêu

Vàng y gặp lửa, vàng cao giá

Thau thử như vàng, ắt phải tiêu.

 

HÌNH BÓNG VẪN LIÊN QUAN

 

Hình là hữu thể, bóng do hình

Bóng đối cùng hình vẫn giống in

Hình sánh nhơn duyên tương khởi tạo

Bóng so quả nghiệp bởi do mình

Hình dầu tránh bóng, hình không thoát

Bóng vẫn theo hình, bóng chẳng chinh

Hình bóng chẳng rời nhân khắn quả

Bóng tùy hình, vốn lẽ thường tình.

 

GIẢI DỊ ĐOAN, PHÁ MÊ TÍN

 

Vẹt màn hắc ám chúng sanh

Tầm ra chơn lý hiệp thành thiên nhiên

Đạo mầu hoằng hóa ban truyền

Phá mê phong tục dựng giềng đạo cao

Thói đời mê tín biết bao!

Nghe không suy nghĩ a nhào mà tin

Bởi còn một nỗi vô minh

Nên chưa giác ngộ sửa mình tu tâm

Biết bao nhiêu sự sai lầm

Dị đoan bày đặt người thâm nhiễm rồi

Bóng chàng, đồng cốt gạt đời

Xưng hô Thần Thánh dối lời dã man

Ứng vào nói chuyện mơ màng

Làm cho phong hóa tồi tàn ngẩn ngơ

Người mê nghe chẳng kịp ngờ

Sát sanh hại vật cúng thờ quỷ ma

Kiết hung ta chác lấy ta

Linh không tự ngã, chánh tà do tâm

Vẹt mây ló bóng trăng rằm

Văn minh ta phải kiếm tầm lý chơn

Nghĩ coi một lẽ nào hơn

Đáng thờ, đáng kính, đáng lờn, đáng chê

Biết đường giác, tránh đường mê

Phượng thờ chi lắm bộn bề tưởng tin

Tri ra nguyên bổn của mình

Rán mà tìm kiếm giữ gìn chơn tâm

Chớ đừng xu hướng lạc lầm

Có ngày rồi phải sa hầm lọt mương

Noi theo nẻo chánh mà nương

Kính thờ cha mẹ tỏ tường hiếu thân

Thánh nhơn dạy bảo ân cần

Thiên kinh vạn quyển, hiếu phần vi tiên

Ngoài ra Tiên Phật Thánh Hiền

Các Ngài siêu thoát khỏi miền trần gian

Về ngôi Đại giác Niết-bàn

Gương lành sáng suốt dẫn đàng mình đi

Nên chi ta phải kỉnh vì

Ấy là tỏ tánh hiếu kỳ bề trên

Để làm một cái tảng nền

Cùng người sơ cấp bước lên khỏi lầm

Chớ Phật ở tại bổn tâm

Giác, mê một niệm thăng trầm mà thôi

Khuyên người mê muội kia ơi!

Lầu kho hia mão đừng bồi làm chi

Sớ điệp thưa tấu việc gì?

Phật Trời chẳng rõ sao đi thưa trình

Chớ dùng sắc tướng âm thinh

Làm mê hoặc chúng lầm tin theo tà

Tự mình bày vẽ làm ra

Giấy tiền vàng bạc đốt mà cúng ai?

Áo quần giấy súc dối thay!

Cúng sao, cúng hạn bởi rày vô minh…

Mướn thầy gõ mõ tụng kinh

Thủynh vong rước tội tưởng tin tại mình

Bày chi rượu thịt linh đình

Càng gây thêm tội càng sinh họa nhiều

Họa phước do ngã tự chiêu

Trầm thăng cũng bởi tại điều làm ra

Tưởng Phật thì chẳng có ma

Một niệm vọng tà quỷ hiện tại tâm

Sợ mình mê tối lạc lầm

Nhiên Đăng một ngọn tự cầm soi đi.

 

TÍN HẠNH NGUYỆN

 

Người học đạo bước đầu tinh tấn

Rán kềm tâm cần mẫn mới thành

Muốn tu phải hiểu cho rành

Tín và Hạnh, Nguyện lòng thành đủ ba

Tín Hạnh Nguyện chớ xa điều ấy

Trọn một đời như vậy cho y

Tín là tin chắc không nghi

Học theo Chánh pháp đến kỳ siêu sanh

Hạnh ấy là làm lành không đổi

Trọn một đời không lỗi không sai

Nguyện là kiến tánh huệ khai

Công viên quả mãn đến ngày đăng tiên

Do chữ Tín nhiễm truyền chơn lý

Hữu sở Hành năng trí kỳ tri

Nguyện là năng hữu sở quy

Lòng hằng tư tưởng giữ y như lời

Tín, Hạnh, Nguyện trọn đời vẹn giữ

Chốn non bồng sen trổ chờ ta

Xác thân còn ở Ta-bà

Ngày kia Tiên cảnh là nhà tánh linh

 

Lòng bác ái sống không buồn không chán

Vì trần ai, không mang nặng cân đai

Chẳng mơ hồ, như những áng mây bay

Không khóc hận, như họ từ cung huyễn

Lòng bác ái hòa mình trong bốn biển

Để cùng ai kết chặt mối tình trong

Không chia ly xanh, đỏ, trắng, vàng, hồng…

Chỉ có biết một tâm hồn vô thủy

Lòng bác ái sống ngoài vòng ích kỷ

Trong thời gian lại với chốn không gian

Cứ mãi đưa hồn lên tận Niết-bàn

Để chan chứa một niềm đầy yêu mến!...

 

THÀNH BẠI ĐỂ SO TÀI

 

Thành là kết quả, bại tan tành

Bại cũng là bài học rất nhanh

Thành nếu dể duôi, thành sẽ bại

Bại mà kiên cố, bại sau thành

Thành là cửa mở nên công nghiệp

Bại vốn trường khai luyện chí mình

Thành nếu gian tà, thành chẳng đúng

Bại mà danh dự, đáng anh hùng.

 

KHỔ VUI ĐỂ LUYỆN CHÍ

 

Cuộc thế xoay vần khổ với vui

Biết sao hết khổ, biết sao vui?

Vui không biết đạo, vui rồi khổ

Khổ để giúp đời, khổ mới vui

Nếu đặng tâm không thì chẳng khổ

Còn đời phiền não có gì vui

Thương đời mãi mắc trong vòng khổ

Hãy rán mà tu để sống vui.

 

CHIM THIỀN VỀ NÚI

 

Vượt thời gian vượt không gian

Chim ơi, bạt cánh dặm ngàn về đâu…?

Phải chăng ly thoát đời sầu?

Tạm dừng ta nhắn đôi câu pháp mầu

Nay gặp lúc chim thiền về núi

Đẹp duyên lành cảm với lòng ta

Chim ơi! Cho hỏi vậy mà

Cớ sao người lại lánh xa sự đời?

Ngươi về núi phải chăng ngươi chán

Chán cho đời đen trẳng đổi thay?

Thà rằng khuya sớm hôm mai

Tịnh thanh một cõi mặc ai phong trần!

Hay ngươi chán xoay vần cuộc thế?

Cho sự đời là bể tang thương!

Muốn cho khỏi nỗi đoạn trường

Nên ngươi mới tính tầm đường về non

Hoặc ngươi chán vào lòn ra cúi

Kiếp phong trần cặm cụi khổ thân

Muốn cho rảnh khỏi nợ nần

Nên ngươi chẳng chịu xoay vần thế gian

Lại có phải ngươi toan lánh tục

Để mở lần những gút thương đau

Nên nay ngươi mới hồi đầu

Trở bay về núi tìm cầu lý chơn

Hay ngươi chán thiệt hơn thế sự

Chốn thị phi nhiều thứ oái oăm

Lòng trần nhiều kẻ độc thâm

Nên ngươi ghét bỏ quày tâm xa lìa

Lại có phải ngươi lìa đô hội

Chỗ đông người kết mối oan vào

Thà rằng vui cảnh thanh tao

Để cho tâm khỏi trước sau não nùng!

Hay ngươi chán khắp cùng thế giới

Bao nhiêu người tiến tới tranh đua

Lòng ngươi chẳng muốn hơn thua

Nên chi lánh chốn tranh đua giữa đời

Lại phải chăng lòng ngươi chê chán?

Cho tình đời như đám phù vân

Dầu cho vui thú phong trần

Trăm năm chẳng mấy thêm phần khổ thân

Hay ngươi chán phù vân dối giả?

Ngươi quày lòng tầm nã đường chơn

Mòn hơi mỏi cánh không sờn

Sao cho ra khỏi lưới đời mà thôi

Lại phải chăng lòng ngươi ngao ngán?

Cho phong trần là thửa ruộng dâu

Muốn cho thoát kiếp âu sầu

Nên ngươi thích hợp vui bầy non xanh

Hay ngươi chán mồi danh bã lợi?

Tâm không màng trụy lạc say sưa

Chỉn e cái kiếp mộng thừa

Nên ngươi đẹp dạ sớm trưa núi rừng

Lại có phải ngươi từng lăn lóc?

Trải thời gian mệt nhọc đã nhiều

Hôm nay thích cảnh tiêu diêu

Nên ngươi phế bỏ những điều năm xưa

Hay ngươi chán say sưa tài sắc?

Kiếp phong trần thắc mắc éo le!

Nên nay ngươi mới trở về

Đẹp vui cảnh núi bên lề tịnh thanh

Lại có phải thị thành huyên náo?

Chốn phù hoa sắm tạo oan khiên

Nên ngươi chán cảnh kim tiền

Về nơi thanh vắng vui miền núi non

Hay ngươi chán tài son tuổi trẻ

Cho cuộc đời lắm vẻ tang thương!

Tĩnh tâm khéo thức mộng trường

Nên nay ngươi mới tìm đường lánh xa?

Có phải chăng ngươi đà lăn lộn

Chốn trần gian gặp khốn nhiều lần?

Nên nay đã chán bụi trần

Sơn lâm vỗ cánh tầm phần rảnh rang

Nay hội ngộ hỏi han ít chuyện

Này chim ơi! Ngươi luyến non xanh

Lòng ta vui đẹp cũng đành

Hỏi thăm ít tiếng duyên lành cùng ngươi

Này chim ơi! Chim ơi! Chim hỡi!

Tỏ cùng ta ngươi gởi ít lời…

Ta xưa cũng khách tục đời

Cũng vai son trẻ cũng người tài hoa

Cũng đứng bậc trung gia oanh liệt

Cũng giày sương đạp tuyết bao lần

Cũng lăn trong kiếp phong trần

Nhưng ta chưa vướng dây thần thế gian

Ta xưa cũng một trang nam tử

Tuổi xuân xanh nghề đủ tài ba

Dung nhan cũng một đóa hoa

Bút nghiên gẫm cũng con nhà trâm anh

Nhưng nghĩ ngán đường sanh nẻo tử

Chán trường đời chẳng muốn hơn thua

Chỉ ưa thích tiếng chuông chùa

Ngâm nga câu kệ lấp đùa lợi danh

Và gẫm lại sự tình cuộc thế

Ngán sắc tài là bể tang thương!

Chỉ ưa mến bóng Phật đường

Sưu tầm chơn lý tìm phương thoát trần

Ta chán ngàn phù vân thế sự!

Thấy mộng đời chẳng có bao lâu

Xuân xanh mấy chút bạc đầu

Nên ta sớm tách vui chầu cửa Không

Từ lánh chốn bụi hồng học đạo

Tính ngày qua hơn mấy năm trời

Khi ta lìa khỏi sự đời

Nguyện tu đắc quả độ người trần gian

Nay nhơn lúc rảnh rang tâm trí

Gặp chim về ta mới hỏi thăm

Chim ơi! Này bạn đồng tâm

Gắng nên nghiên cứu huyền thâm pháp mầu

Đời biển khổ ai hầu biết chán

Này chim ơi! Phải rán lánh xa

Đừng theo xu hướng người ta

Quày tâm trở lại trầm kha càng nhiều…

Tu cội phúc Phật yêu Thánh mến

Thoát trần gian về đến Tây phang

Lánh xa kiếp sống buộc ràng

Thân tâm yên ổn an nhàn lạc hoan

Tu chứng quả Niết-bàn chực sẵn

Này chim ơi! Dứt hẳn luân hồi

Tử sanh nay đã hết rồi

Chim thiền về núi nhớ lời của ta.

 

Chim thiền về núi hưởng thanh nhàn

Thoát khỏi lưới trần nghiệp chướng mang

Khất sĩ giúp đời nêu Bát chánh

Du Tăng xuất hiện phất y vàng

Sớm đưa khách tục qui Tiên cảnh

Chiều rước bạn thiền đến Lạc bang

Ai được nương về theo đạo đức

Hưởng an vĩnh viễn cảnh thiên đàng.

 

RỪNG THUYỀN

 

Rừng cây cao cả cảnh thâm u

Suối chảy vo ve gió vụt vù

Hạp chốn thanh nhàn cho kẻ trí

Thuận chiều thiền tọa với người tu

Vào đây cửa Phật càng nom đến

Ngó lại trần gian cách biệt mù

Vơ vẩn bụi hồng bay mất ráo

Thất tình lục dục chẳng còn bu.

 

ĐÁP HỌA Y VẬN

 

Hoa nở thời gian nắng héo von

Tuổi xuân đến lượt cũng tiêu mòn

Trường đời chốc lát rồi phai mất

Lối đạo ngàn năm cũng vẫn còn

Hỡi kẻ trinh lương mau phủi phấn

Này người tiết liệt sớm chùi son

Dọn mình giải thoát vào Ni chúng

Đáp nghĩa cù lao mới vẹn tròn.

 

PHỤ HỌA Y VẬN

 

Công cha nghĩa mẹ nghĩ thon von

Trễ nãi hồng nhan sẽ chết mòn

Mộng điệp mơ màng danh chẳng mất

Nam kha thức tỉnh lợi không còn

Thôi nguyền lánh tục lìa hương xạ

Hãy nguyện ly trần dứt phấn son

Hỡi kẻ đào tơ cùng liễu yếu

Lê chân giải thoát đạo vuông tròn.

 

TIẾP HỌA Y VẬN

 

Dưới ánh triêu dương vật héo von

Xuân xanh để nữa cũng phai mòn

Dây vàng vạn kiếp không tiêu mất

Chỉ đỏ đôi năm có chắc còn

Kẻ liễu mau chùi đôi má phấn

Người đào sớm phủi cặp môi son

Thuyền từ hãy xuống gây chèo quế

Nhẹ tách trùng ba hiếu đạo tròn.

 

HỌA THEO Y VẬN

 

Vạn vật thời gian phải héo von

Thường tình nếu bận xác hao mòn

Trường đời kẻ bảo rồi tiêu mất

Cõi đạo người cho lại vẫn còn

Nghĩ quẩn lo quanh cần phủi phấn

Suy sau tính trước sớm chùi son

Làm người chẳng quý bằng Tiên Phật

Vậy hãy lo tu ắt Phật tròn.

 

HAI NẺO ĐẠO ĐỜI

 

Xuất gia, xuất giá cũng đồng ly

Phận gái giữ cho khỏi lỗi nghì

Nghĩa mẹ sanh thành nhiều khó nhọc

Ơn cha dưỡng dục lắm sầu bi

Thái Sơn vòi vọi nào so đặng

Nam Hải thênh thênh khó sánh bì

Thế nữ hỡi ai người báo hiếu?

Mau tay giải thoát mối tình đi.

 

HỌA Y VẬN

 

Song đường có thuở phải chia ly!

Nữ tú làm sao đúng đạo nghì?

Chín tháng cưu mang đầy thống khổ

Ba năm nhũ bộ quá sầu bi!

Cù lao thăm thẳm nào cân được

Cúc dục vơi vơi há lượng bì

Báo hiếu đầu tiên ai thích nhỉ?

Mài gươm đoạn phủi chỉ mành đi.

 

THÚC PHƯỢC

 

Khám ngục mênh mông giữa cõi hồng

Nhốt người hành phạt ở bên trong

Sắc tài nhủng nhẳng như xiềng trói

Danh lợi đu đưa thể cột còng

Đau khổ bơi bơi kỳ cá chậu

Sầu bi quạt quạt cánh chim lồng

Đời đời kiếp kiếp không ngưng dứt

Sao chẳng tìm đường thoát lưới gông?

 

GIẢI THOÁT

 

Đã toan giải thoát cái tình đời

Dạo khắp Ta-bà ở mọi nơi

Lểnh lảng biển trần như cá nước

Mênh mông rừng đạp tợ chim trời

Tự do xòe cánh bay bay quạt

Thong thả vươn kỳ lội lội bơi

Chẳng vướng bi ai mùi tục lụy

Càng tu càng tránh lánh xa vời.

 

PHẬN GÁI

 

Phận gái dễ nào dưỡng mẹ cha

Thủy chung lần lượt cũng lìa nhà

Hai đường dâu, vãi không đi khỏi

Một bước đạo, đời phải bước qua

Xách gói tùng phu kêu xuất giá

Mang y đầu Phật gọi ly gia

Khổ vui hai nẻo cần phân rõ

Để uổng một đời rụi cánh hoa.

 

HAI ĐIỀU VUI KHỔ

 

Xuất gia, xuất giá cũng đồng đi

Hai nẻo khác nhau mới lạ kỳ

Lối đạo trở về nơi tịnh lạc

Đường đời đưa đến chốn sầu bi

Phật Tiên đắc nhập tâm nhàn rỗi

Thê thiếp lâm vào tánh mạng suy

Nữ giới hỡi ai người trí giả

Phu nhơn há sánh với bần Ni?

 

HAI ĐIỀU TRƯỞNG ĐOẢN

 

Thân gái đạo lành rán giữ ghi

Sắc, tài, danh, lợi có ra gì?

Hồng trần giả tạm mau dừng lại

Cực Lạc trường tồn sớm bước đi

Tứ đức thời gian rồi cách biệt

Tam tùng một lúc cũng chia ly!

Chi bằng lánh tục làm Tiên Phật

Khỏi thẹn kiếp đời phận nữ nhi.

 

KHUYÊN NỮ BÁO HIẾU

 

Đạo hiếu chưa tròn hổ phận con

Gương xưa Bạch Tịnh đã vuông tròn

Vài nàng má thắm mau bôi phấn

Mấy ả môi hồng kíp dứt son

Để đáp ơn cha lai láng biển

Hầu đền nghĩa mẹ chập chùng non

Dầu sao xác rã ra từng mảnh

Trải vạn xuân thu tiếng vẫn còn.

 

ĐỜI MỘNG ẢO

 

Hoàng hôn đã khuất ánh tà dương

Thế sự in như giấc mộng trường

Hỡi khách thuyền quyên đừng ướp phấn

Khuyên nàng tiết liệt chớ xông hương

Mê chi đất khách cho quên lối

Bỏ lại quê xưa để bặt đường

Sớm bước vào hàng Ni Khất sĩ

Hầu mong tránh khỏi cuộc sâm thương.

 

KHEN TRANG NAM TỬ

 

Khen trang nam tử đã quên mình

Xá phủi tình đời chữ nhục vinh

Quyết chí tầm tu đường giải thoát

Xả thân cầu đạo tuổi còn xinh

Bền lòng vẹt ngút mù sương tối

Chặt dạ đắp bồi ánh huệ minh

Trai quyết tu hành trai mới đáng

Sau thành chánh quả tánh tồn sinh.

 

TẶNG NỮ TIẾT TRINH

 

Khen thay thục nữ chốn đô thành

Mà lại phụ phàng mái tóc xanh

Niên thiếu chẳng ham mùi thế sự

Đào tơ không nhiễm mến duyên tình

Chay trường đáp nghĩa ơn cha dưỡng

Giới hạnh trả đền đức mẹ sinh

Phận gái vẹn tròn theo nẻo chánh

Lánh vòng ân ái luyện tâm kinh.

 

TÚ XƯƠNG TIẾP HỌA

 

Con gái nhà ai dáng thị thành

Má hồng nỡ phụ cái xuân xanh

Lạt mùi son phấn, say mùi đạo

Mở cánh Từ bi, khép cánh tình

Ấy hẳn đã đành nơi tịnh cảnh

Chẳng còn bận bịu kiếp phù sinh

Quý thay thục nữ hồng nhan thế

Quyết cắt tóc thề, với quyển kinh.

 

VÔ DANH HỌA TIẾP

 

Mến chốn am mây lánh thị thành

Lấp vùi son phấn vẻ xuân xanh

Liễu bồ theo dõi đường Tiên Phật

Trăng gió đâu ham mối nợ tình

Học đạo đưa qua bờ giác ngạn

Dắt người cho đến cõi trường sanh

Thương đời tài sắc bao nhiêu lụy

Dâu bể cuộc cờ luống hãi kinh…

 

PHAN LONG GIANG TIẾP HỌA

 

Hạ nguơn nháo nhúc gái kinh thành

Mộ đạo Từ bi lúc tuổi xanh

Bận kiếp trần duyên e lỡ bước

Mến đời tục lụy sợ sa tình

Giộng chuông hướng thiện đền ơn dưỡng

Lần chuỗi Bồ-đề đáp nghĩa sanh

Khổ hạnh thành tâm tầm giác ngộ

Độ cùng đồng loại thoát đời kinh.

 

GN. TIẾP HỌA LẠI

 

Tuổi xuân chẳng nhiễm mến đô thành

Nay đến cửa thiền gởi tóc xanh

Chẳng phải buồn duyên hay tủi phận

Bởi ham đạo đức giải dây tình

Quyết lòng thoát khỏi vòng cương tỏa

Bền chí một lòng cứu chúng sanh

Nên mới xả thân cầu diệu pháp

Đêm ngày trì giữ chữ tâm kinh.

 

HL. TIẾP HỌA

 

Ngán nỗi phồn hoa mộng dệt thành

Tầm tu nào ngại tuổi đầu xanh

Lên đường giải thoát ly nhà tục

Nhẹ gót chơn không ném gánh tình

Vặc vặc soi trong gương đức hạnh

Lâng lâng phủi sạch nợ phù sanh

Tâm thanh trí sáng hằng an lạc

Thư thả ngày ngày chuyển tạng kinh.

 

HỌA NGHỊCH TRAI Ở CHÙA

 

Tùng quân lẽ khoái chốn kinh thành

Lại để điêu tàn mái tóc xanh

Chắc nợ lôi thôi đành lỗi nợ

Hay tình bối rối nỡ quên tình?

Chê đời sống gởi không ham sống

Mến đạo sanh tồn mới thích sanh

Nếu kẻ tang bồng hoàn vũ thế

Đào hoa có thể nỗi lòng kinh.

 

TIẾNG LÒNG TRONG ĐÊM KHUYA

 

Đìu hiu gió, sương khuya rơi lác đác

Ánh trăng mờ, xóa nhạt khắp không gian

Tiếng suối đờn rỉ rả…cuối thôn làng

Giọng réo rắt, than van đàn dế lạnh

 

Trong tịnh thất, nỗi lòng người tịnh hạnh

Thỏa thích đời, hiu quạnh mãi trầm tư…

Thả tâm hồn bủa khắp cõi thái hư

Để thực nghiệm đạo từ… cơ tối diệu

 

Khi xả định, còn ngồi trên mảnh chiếu

Lòng hân hoan, trổi nhạc điệu du dương

Sống hòa vui trong cảnh giới chơn thường

Ôi! Hạnh phúc miên trường ai biết nhỉ!

 

Phim quá khứ quay ngược dòng suy nghĩ

Tiền căn mình tích lũy phước duyên lành

Nên giờ đây, trong lúc tuổi còn xanh

Gặp được ánh quang minh dìu thoát tục

 

Rồi liếc mắt nhìn bên đời thoát tục

Thấy nhơn sanh trồi hụp biển trần duyên

Chịu đau thương thất vọng khổ triền miên

Gây oan trái, oan khiên không kể xiết

 

Thế nhân hỡi! Nghe chăng lời tha thiết?

Của tình thương bất diệt đáy lòng ta

Hãy về đây, giải thoát khỏi ái hà

Tựa bên gối Phật-đà Vô Lượng Thọ

 

Cõi Cực Lạc, là huỳnh y rạng rỡ

Liên hoa đài, sáng tỏ ánh quang minh

Đức Di Đà an tọa thuyết chơn kinh

Trong Pháp tánh, phàm tình khôn thấu đạt

 

Hỡi nhân thế, rán khai thông trực giác

Lò ngũ hương xông ngát cõi tam thiên

Hãy về đi, đây rộng mở cửa thiền

Theo gót ngọc Tăng hiền đang trổi bước

 

Nhưng khuyên mãi, mấy ai đồng nguyện ước?

Phải chăng ta thiếu phước kém tu hành

Bởi mê mờ, chưa đắc quả Vô sanh

Nên Pháp lý không thành cơ hóa độ

 

Thôi thì quyết thu hình trong một xó

Vui cái đời vất bỏ của phế nhân

Vui làm câm, vui làm điếc ngu đần

Vui lặng lẽ, thanh bần trong mái lá

 

Ta như một cái thây ma rục rã

Liệm trong hòm, chôn dưới mả từ lâu

Mặc thế nhân, mặc vui sướng lo rầu

Ta cứ mãi chìm sâu trong vắng lặng

 

Dành một chuỗi thời gian dài đăng đẳng

Để đi vào rừng thẳm của tâm trung

Ngày tương lai, chân lý đạo sáng bừng

Sẽ rọi khắp dương trần âu chẳng muộn

 

Ta không phải bi quan… người đã tưởng

Không chán đời để mượn cảnh nâu sồng

Không thất tình, tìm khuây khỏa tấc lòng

Không tiêu cực, cũng không là ích kỷ

 

Bởi suy nghiệm, trước bao người tận tụy

Theo tiếng lòng cao quý của tình thương

Mãi xông pha lao khổ gội nắng sương

Nhưng rốt cuộc, không đương đời thinh sắc

 

Ôi! Phát nguyện độ đời, đời vướng mắc

Bao con tim héo hắt… xót gan vàng

Đôi mắt mờ, lệ mãi đọng hòa chan

Hậu cơ nghiệp Thành Thang… dòng nước cuộn

 

Trước thảm trạng sương mây mù gió cuốn

Cả rừng cây lý tưởng rạp theo chiều

Gây phong trào thối chuyển biết bao nhiêu

Khiến ta phải đắn đo… tình thương hại

 

Ai kia hỡi, rán ngăn lòng tê tái!

Đây bàn tay bác ái nhẹ nâng đưa

Vuốt ve thương… hàn gắn vẹn nguyên xưa

Để nối lại dây vàng vừa đứt đoạn

 

Ôi! Vẳng tiếng chuông chùa rơi nhẹ thoảng

Trên không gian nhấp nhoáng điểm sao mờ

Tiếng ó o, gà gáy vọng xa đưa

Ta hy vọng tương lai đời Cực Lạc.

 

Trảng Bom, 13-3 Tân Sửu 1961

Một vị sư Khất Sĩ

 

 

BUỒN, VUI, TƯỚI

 

Buồn lòng đạo đức ít ai hành

Buồn thảm tình đời cứ đấu tranh

Buồn bã phù vân lo cấu xé

Buồn đời say đắm mất căn lành

 

Vui chơi đạo đức đặng lòng an

Vui dạ không còn bận thế gian

Vui cảnh nâu sồng tâm rảnh khổ

Vui thay cửa Phật hưởng thanh nhàn!

 

Tưới mát lửa lòng ngọn nước dương

Tưới cho nguội lạnh lửa cang thường

Tưới tiêu dục vọng trong tâm khảm

Tưới lạnh dạt dào sóng bể thương.

 

GIẢI KHỔ TÌNH

 

Tình là biển lửa rừng hoang

Tu nguồn cội phúc Lạc bang sớm về

Rừng đời biển khổ trầm mê

Linh Sơn bửu điện quê chung của mình.

***

Tình, danh, lợi, ruộng, tiền, con, vợ…

Bảy món đều là nợ ba sinh.

Chi bằng lánh chữ nhục vinh

Niệm câu Bát-nhã tánh linh còn hoài.

***

Kém thế cũng đành thủ phận không

Khỏi lo vợ níu khỏi con bồng

Bứt mây e tiếng rừng khua động

Gióng trống sợ chuông bể quặn lòng

Biển ái lấp thầm muôn sắc gái

Sóng tình vùi dập triệu tài ông

Lợi danh là khổ đâu bằng đạo

Học đạo còn hơn tạo vợ chồng.

 

HỌA TIẾP BÀI II

 

Kết cuộc mỗi người nấm mộ không

Có chi so sánh mãi đèo bồng

Trách chòm mây cuộn non thay bạc

Thương mặt nước nhăn biển quặn lòng

Phú quý mồi thơm lừa bạn gái

Đỉnh chung lộc cả gạt đàn ông

Trò đời nghĩ lại chao ôi! Ngán!

Ngán tạo oan gia nghiệp vợ chồng.

 

TIẾP HỌA BÀI III

 

Chung cuộc mỗi người một nấm không

Đâu hơn thiện khách ở non bồng

Mượn khăn thanh tịnh lau trần bợn

Rưới nước Ma-ha rửa sạch lòng

Chước diệu giúp đời so bạn gái

Phương mầu hoằng pháp sánh đàn ông

Thanh bần lạc đạo là minh đức

Đức tại thủ trung phước chất chồng.

 

TIẾP HỌA BÀI IV

 

Nhật nhật thường hành chữ sắc không

Thời thời phát nguyện giữa lư bồng

Ngày đêm xâu chuỗi lần tu tánh

Năm tháng tâm kinh mật niệm lòng

Nhẫn nhẫn trọn thờ ba Đức Phật

Người người đều có một nhơn ông

Thôi thôi nên giải tình đừng buộc

Mở mở oan gia nghiệp vợ chồng.

 

TIẾP HỌA BÀI V

 

Sanh không rồi chết cũng hoàn không

Tạo vợ con chi đứa ẵm bồng

Cảnh khổ rất nhiều đâu đẹp dạ

Đời vui chút xẻo chẳng hài lòng

Gắng gìn sau trước, mười phương pháp

Chuyên ngó trong ngoài một chủ ông

Sắc bén hơn gươm nên tự nghĩ

Nghĩ thôi chán nản cái tình chồng.

 

PS. TỪ THIỆN

 

GN. TIẾP HỌA BÀI VI

 

Ai cũng quy về một mối không

Sao bằng Tiên trưởng ở non Bồng!

Tránh xa danh lợi niềm tân khổ

Lìa khỏi sắc tài nẻo bại vong

Gióng trống ba hồi kêu bạn gái

Đánh chuông chín hiệp réo đàn ông

Mau mau cảnh tỉnh đêm trường mộng

Đắm đuối trầm luân bởi vợ chồng.

 

GN. TIẾP HỌA BÀI VII

 

Cuộc đời giả tạm vốn là không

Say đắm làm chi với bụi hồng

Sự thế chẳng qua nguồn bể khổ

Đường đời nào khác hố hầm chông

Chuông ngân cảnh tỉnh đêm trường mộng

Trống thúc vang rân giác ngộ long

Muốn đến Tây phương bền chí cả

Tránh đi mối nợ vợ cùng chồng

 

GN. TIẾP HỌA BÀI VIII

 

Vạn sự đáo đầu trở lại không

Có chi vui sướng sánh Tiên Bồng

Trăng thanh gió mát an nhàn lạc

Nước bích non xanh rất thỏa lòng

Nữ giới tu hành kêu Ngọc nữ

Namnhân đắc quả gọi Tiên ông

Đời đời kiếp kiếp tiêu diêu hưởng

Dứt hẳn không nghe tiếng vợ chồng.

 

VẤN ĐÁP VỀ CHỮ HIẾU

(người đi tu có bất hiếu không?)

 

VẤN:

Kính thưa sư, xin sư giùm giảng giải

Tại vì sao trong sách Thánh có câu:

Trăm hạnh lành, hiếu thuận đứng làm đầu

Và lại nói, câu “Dưỡng nhi đãi lão”

 

Nếu nói thế, người tu vô hiếu thảo?

Vì không tròn câu đắp lạnh quạt nồng

Vậy người tu có bất hiếu hay không?

Xin giải rõ, đáp lòng tôi nghi vấn.

 

ĐÁP:

Này quý vị, lắng nghe cho tường tận

Đây đáp lời đạo tâm hỏi như trên

Chính người tu, là mong để đáp đền

Ơn muôn một, mới vẹn nền hiếu tử

 

Kìa gương báu còn ghi trong sách sử

Đức Thích Ca, là Thái tử Đông cung

Ngài đi tu, tầm đạo tận sơn trung

Bỏ vợ đẹp, con thơ cùng cha yếu

 

Nếu Ngài đã vong ân và bất hiếu

Thì sao Ngài được chứng đạo Bồ-đề

Thì sao Ngài đặng ngôi vị cao xuê

Là Toàn giác, là Cha lành bốn loại

 

Trong kinh điển, theo như lời Ngài dạy

Là người tu mới báo hiếu vẹn toàn

Trong sách Nho, cũng có dạy rõ ràng

Muốn báo hiếu, phải lập thân hành đạo

 

Còn nếu nói: “Dưỡng nhi là đãi lão”

Kẻ thi ơn mà cầu báo hay sao?

Công mẹ cha dưỡng dục lắm khổ lao!

Nuôi với dưỡng thế nào mà gọi trả?

 

Còn người tu, khi đến ngày đắc quả

Thì ơn muôn, chỉ đền trả một lần

Bát-nhã thuyền vượt ra giữa biển trần

Vớt tất cả những người đang trầm lụy!

 

Lời Phật dạy, kể từ đời vô thủy

Đến ngày nay ta nhiều kiếp trải qua

Có trăm ngàn muôn triệu mẹ cùng cha

Vậy hiện tại chúng sanh là cha mẹ

 

Trên pháp tọa, những người tu cặn kẽ

Giải chỉ rành, những lý lẽ cao thâm

Phá vô minh, san phẳng hố mê lầm

Phương pháp ấy mới vẹn toàn chữ hiếu

 

Người chẳng rõ mới khinh chê đàm tiếu

Cho người tu là bất hiếu vô nghì

Cho người tu là lỗi đạo thê nhi

Hiếu chẳng vẹn, tu làm chi khổ cực?

 

Này đạo tâm, lắng nghe và nhận thức

Kìa gương xưa, Đại đức Mục Kiền Liên

Phận làm con gặp phải mẹ không hiền

Mà Ngài vẫn giữ vẹn niềm hiếu tử

 

Bà Thanh Đề, khi lỡ gây nghiệp dữ

Nhờ Ngài tu mà cứu khỏi xiềng gông

Đức Thích Ca hiếu nghĩa cũng tròn xong

Tu chứng đắc, làm đẹp lòng phụ mẫu…

 

Kìa những kẻ hung hoang và hỗn ẩu

Bỏ mẹ cha, đi du hý điếm đàng

Để tiếng nhơ cho cha mẹ vương mang

Những kẻ ấy mới gọi là bất hiếu…

 

Cũng như kẻ bị người đời sỉ tiếu

Tham công danh mà quên lãng đạo nhà

Vì vợ con mà hất hủi mẹ cha

Những kẻ ấy, mới gọi là nghịch tử

 

Còn người tu, tuy là xa cố xứ

Không vẹn toàn câu đắp lạnh quạt nồng

Nhưng ân thâm, nguyền khăn khắn bên lòng

Dầu biển cạn, núi mòn không phai lãng

 

Cha cùng mẹ, khi đến ngày quá vãng

Con biết tu, chỉ chú nguyện tâm thành

Thì mẹ cha Cực Lạc được vãng sanh

Và sẽ được thơm danh trong vạn thuở

 

Làm cha mẹ, con tu đừng cản trở

Kìa trong kinh, Đức Phật có dạy rằng:

Con được thành thì cha mẹ siêu thăng

Một hoa trổ, muôn hoa đều ảnh hưởng

 

Hồi xét lại theo lòng tôi nghĩ tưởng

Sống làm chi mà chìm đắm ái hà?

Rồi ngày kia, cha mẹ chết con già

Đường tiến hóa phải đành cam ngưng trệ

 

Người khất sĩ hòa mình trong bốn bể

Sống chung cùng với vạn vật hàm linh

Cả chúng sanh là cha mẹ của mình

Nên khất sĩ có tình thương bao quát

 

Nói tóm lại, những người tu giải thoát

Mới hoàn toàn hiếu thảo với mẹ cha

Mới hoàn toàn ngay thảo với ông bà

Đời hiện tại cũng như đời vô thủy

 

Này đạo tâm! Nếu nhận là đúng lý

Hãy mau mau cắt ái với ly gia

Rán tầm tu hầu đáp nghĩa mẹ cha

Và góp sức lập đời chân-thiện-mỹ…

 

Hãy nỗ lực đắp xây nền chơn lý

Hãy thệ nguyền phụng sự chúng sinh chung

Hãy hy sinh đến phút cuối cùng

Hãy mạnh tiến trên con đường Khất Sĩ

 

Đó mới gọi bậc tang bồng hồ thỉ

Mới gọi là chí khí đấng trượng phu

Mới gọi là thoát khỏi thế gian tù

Và mới gọi là: đền ơn phụ mẫu…

 

Điều thắc mắc, đạo tâm đà rõ thấu

Hiếu hay không, đạo tâm đã am tường

Kể từ nay, đã thấy rõ con đường

Mau giải thoát làm Du Tăng khất sĩ.

 

Cai Lậy, 12-11 Canh Tý (1961)

MỘT VỊ SƯ KHẤT SĨ

 

Tỉnh ngộ thoát ra khỏi lưới trần

Dứt lìa đau khổ cảnh mê tân

Mau chân bước đến nương thuyền giác

Cõi Phật thanh cao sẽ được gần.

 

CHÍ TANG BỒNG

 

Thân trai hồ thỉ chí hiên ngang

Bốn biển năm châu một chữ nhàn

Bình bát vai mang xa bến tục

Y vàng phất phới hướng Tây phang

 

Bạn thầy chung sống như cha mẹ

Nhân loại chúng sanh thể họ hàng

Quạt gió đèn trăng vui chí nguyện

Chẳng màng vinh nhục với bi hoan!

 

ƠN TỔ QUỐC

 

Quằn quại vai mang nợ núi sông

Làm trai phải đáp nghĩa tang bồng

Hươi gươm “trí huệ” lìa dây ái

Múa gậy “chơn như” đuổi giặc lòng

Gióng trống “đại hùng” xua dục vọng

Phất cờ “đại lực” đắc kỳ công

Đáp lời Tổ quốc cùng sông núi

Khỏi thẹn Tiên Long giống Lạc Hồng

 

LỜI NGƯỜI THOÁT TỤC

 

Ngoảnh lại nhìn xem khắp bốn phương

Thế gian vạn pháp thảy vô thường

Vinh hoa tựa thể môn tiền tuyết

Phú quý khác nào thảo thượng sương

Danh vọng nhất thời trong vở kịch

Thế quyền chốc lát giữa sân trường

Sao bằng chơn lý không di dịch

Dưới bóng hoa Đàm nghiệp khỏi vương.

 

 

PHỎNG ĐÁP HOÀI NGHI

(Người đi tu có giúp ích gì không?)

 

Lắm kẻ hỏi: Khi quốc gia hữu sự…

Những người tu có giúp ích gì không?

Hay lảng lơ khi nòi giống diệt vong?

Hay lặng lẽ khi nước nhà kêu gọi?

 

Đây xin đáp những lời trên đã hỏi

Chính người tu là những kẻ hy sinh

Chính người tu là xây mộng hòa bình

Là hưởng ứng giúp đời bằng đạo đức

 

Kìa gương báu nhà Du Tăng khất thực

Không tật nguyền mà ôm bát đi xin

Xin, không tham, để xây cuộc hòa bình

Xin, không ác, để lập đời thiện mỹ

 

Đi xin ấy để dạy người bố thí

Và nhắc mình biết vong kỷ trừ tham

Ta và người, khi diệt hẳn muốn ham

Thì tuyệt đối, cõi đời không giặc giã

 

Tăng khất thực mặc y bằng vải vá

Là nhắc người sang cả chớ se sua

Là khuyên người nghèo khổ chớ tranh đua

Là chất nhựa gắn liền chung một khối

 

Đời sở dĩ bất công và tội lỗi

Bởi do người không trực tiếp đi xin

Cứ ngồi không mà muốn lợi về mình

Nên lắm cuộc giặc toàn gieo khói lửa

 

Tăng khất thực, mỗi ngày ăn một bữa

Không bạc tiền, không nhà cửa lợi danh

Là tiếng chuông cảnh tỉnh cả quần sanh

Là đánh thức cõi đời đang say ngủ

 

Tăng khất thực không nơi nào an trụ

Là phương châm mở rộng khối tình thương

Là phương châm chỉ rõ lý vô thường

Chớ chấp thủ, nắm trì mà khổ ải

 

Tăng khất thực, giúp đời là ban rải

Lời pháp lành khuyên nhắc kẻ si mê

Lái thuyền từ đưa khách trở về quê

Soi đuốc huệ chỉ đường người lạc lối

 

Đời chen lộn muôn ngàn đường tội lỗi

Là do lòng tham ác ngất trùng mây

Tăng giúp đời là giới luật đủ đầy

Nêu gương báu không đồng xu cắc bạc

 

Đời sở dĩ mãi cùng nhau sát phạt

Bởi do người không giữ giới trì trai

Tăng giúp đời là giáo pháp hoằng khai

Đem ánh đạo Từ bi nhuần khắp xứ

 

Đời loạn bởi dục tình hay tích trữ

Đã nhiều phen làm bại hoại luân thường

Tăng giúp đời là thanh bạch thuần lương

Thân tinh khiết, tâm không vương tình dục

 

Đời loạn khổ bởi đời không nhẫn nhục

Tàn sát nhau vì một chút sân si

Tăng giúp đời là hỷ xả từ bi

Nêu gương nhẫn trong phạm vi ôm bát

 

Đời loạn khổ do miếng ăn hành phạt

Đời đảo điên, tội ác cũng vì ăn

Bởi đời không noi theo dấu nhà Tăng

Chạy một ngọ tương rau gì chẳng nệ

 

Đời loạn khổ bởi tranh nhau quyền thế

Nên lắm khi tình huynh đệ tương tàn…

Tăng giúp đời là bác ái hòa chan

Cõi bình đẳng, vô quyền và vô trị

 

Nói tóm lại, nhà Du Tăng khất sĩ

Mới hoàn toàn giúp ích chúng sanh chung

Mới hoàn toàn là một đấng anh hùng

Và như thế mới hoàn toàn xả kỷ

 

Tăng như thế, đúng danh là Khất sĩ

Khất là Xin, xin bằng cách không tham

Sĩ là Học, học mãi mãi không nhàm

Xin và Học để nâng đời bạc nhược

 

Đồng ý chí, đồng mục tiêu giúp nước

Duy người tu mới rốt ráo cao trên

Chính người tu thực hiện được hòa bình

Mà chẳng tốn mũi tên cùng giọt máu

 

Nếu sanh chúng biết quay về với đạo

Biết tôn thờ chánh giáo Đức Như Lai

Biết yêu thương, gìn mạng sống muôn loài

Như thế sẽ: hòa bình và vĩnh viễn.

 

Sóc Trăng, ngày 27-8 năm Canh Tý

Một vị sư Khất Sĩ

 

 

ĐƯỜNG LỐI KHẤT SĨ

 

Người Khất sĩ nghĩa là người Xin Học
Xin nuôi thân bằng vật chất hữu hình

Học nuôi tâm bằng các pháp vô hình

Lẽ Xin Học sẽ viên minh toàn thiện

 

Người Khất sĩ gót lữ hành dũng tiến

Bước phiêu linh, lấy bốn biển làm nhà

Lấy chín châu làm sự nghiệp độ tha

Quyết thực hiện chí tang bồng hồ thỉ

 

Đường lối ấy sẽ lập đời thiện mỹ

Vì ngoài vòng của ích kỷ cá nhân

Nhà Du Tăng nguyện ra sức độ trần

Bằng phương pháp đem thân hành đạo lý

 

Cõi tịnh lạc, nhà Du Tăng Khất sĩ

Là chơn không, là vô trị vô quyền

Không lợi danh, không nhà cửa bạc tiền

Chay đạm bạc, kết duyên cùng vạn loại

 

Người Khất sĩ đủ đầy tâm bác ái

Tình đại đồng, cùng muôn loại tương thân

Quyết đắp xây một thế hệ ai lân

Dây thân ái dính liền người với vật

 

Người Khất sĩ là người yêu lẽ thật

Quyết xả thân vì vạn vật chúng sanh

Quyết xả thân với một chí nguyện lành

Quyết xả phú cầu bần, vui đạo lý

 

Người Khất sĩ phải là người cao quý

Bước Ta-bà nguyện xả kỷ lợi tha

Quyết ra tay san phẳng hố mê tà

Biển ác thế đổi ra thành cõi Phật

 

Chân đạp đất, hòa vui cùng lòng đất

Đầu đội trời, biểu hiện kính yêu trời

Gần gũi đời là để cứu độ đời…

Nêu bác ái, nguyện lấp bằng bể ái

 

Ôm bát đất sống chung cùng vạn loại

Khoác y vàng, hòa thân với hàm linh

Mượn tiếng xin để tế độ chúng sinh

Đem gương Phật cho người gieo giống Phật

 

Không một vật để được gần vạn vật

Giộng chuông từ cho tỉnh giấc hoàng lương

Đi đó đây để dắt lối chỉ đường

Để chỉ rõ lý vô thường vô ngã

 

Người khất sĩ sống chung cùng tất cả

Vừa học người, vừa dạy cả mọi người

Vừa xin đời, vừa bố thí lại đời

Con tất cả… cũng là vua tất cả

 

Đời khất sĩ, đời tự do thong thả

Bước du phương đi khắp cả non sông

Đấng tu mi chẳng thẹn mặt tang bồng

Một nếp sống đại đồng và giải thoát

 

Khi rảo bước xem núi đồi bát ngát

Khi lê chân nhìn nước bạc chói trong

Lúc tọa thiền nơi thạch động non bồng

Lúc cất bước hóa duyên nơi thị dã

 

Người khất sĩ xin học cùng tất cả

Để trau dồi đạo quả ở ngày mai

Giữ phương châm: Học muôn bạn ngàn thầy

Mới chứng đắc quả Như Lai toàn giác

 

Tiếng “Khất sĩ”, nếu ai mà ngộ đạt

Thì mới mong được giải thoát nhẹ nhàng

Bát vai mang, thân choàng mảnh y vàng

Kết bạn với mây ngàn cùng hồ hải…

 

Người khất sĩ đem pháp lành ban rải

Nhắc khuyên đời đừng tạo nghiệp gây nhân

Ở trong trần, mà tâm chẳng nhiễm trần

Thật xứng đáng là người con vũ trụ!

 

Quảng Trị, 29-5 Tân Sửu 1961

Một tu sĩ

 

NÊN TU

 

Giàu sang cho lắm, ruộng đầy đồng

Nhắm mắt đi rồi cũng sạch không!

Đau đớn, vợ con nào thế đặng

Tắt hơi, của cải chuộc đâu xong

Xác nằm mả đá, người người trọng

Hồn xuống âm ty, quỷ sứ còng

Xét gẫm cuộc đời như thế ấy

Tu hành sau có chỗ trông mong.

 

TU PHẢI VÔ SỰ

 

Làm lành làm phước gẫm mơ màng

Sợ tội đi tu trốn thế gian

Đông độ còn kèm rương bạc trắng

Tây phương muốn thấy nhụy sen vàng

Ly gia ít bữa đà nôn ruột

Cắt ái vài ngày vội thở than

Đã biết tu hành là quý nhất

Tu mà vô sự mới thanh nhàn.

 

PHẬN BẠC

 

Hoa nở rồi ra phải rụng tàn

Làm thân con gái nghĩ lầm than

Xuân sang đem đến đời tươi thắm

Hè lại cướp đi giấc mộng vàng!

Tình nghĩa nhất thời nồng với lạnh

Vợ chồng ngắn ngủi hiệp rồi tan!

Bao nhiêu vui sướng bao nhiêu khổ

Hoa nở rồi ra phải rụng tàn!

 

Thân gái nợ tình lắm khổ đau

Rủi may ví thể hạt mưa rào

Hạt thì rớt xuống vườn hoa đẹp

Hạt lại rơi nhằm phải giếng ao

Vui khổ đôi đàng khôn định trước

Khổ vui rồi cũng lụy về sau

Chi bằng sớm lánh đường ân ái

Cửa Phật từ bi khá bước vào.

 

Hai tám gái tơ dáng mặn mà

Nhưng rồi vàng võ nét xuân hoa

Xuân sang xinh đẹp coi như phụng

Thu lại bê nghê giống tựa gà

Biển ái hụp trồi nên tóc rối

Sóng tình vùi dập phải dùn da

Tương lai hạnh phúc đâu không thấy

Chỉ thấy chơi vơi giữa ái hà!

 

HUYỄN THÂN BẤT TỊNH

 

Bốn vật lớn gọi là tứ đại

Nhờ nhơn duyên hiệp lại thành hình

Thân người trơn láng đẹp xinh

Nhưng trong “cửu khiếu” chẳng tinh chút nào

Thân ẩn chứa biết bao nhơ nhớp

Che mắt người bằng lớp da trơn

Lắm người chẳng rõ thiệt hơn

Tô son ướp phấn phết sơn hàng ngày

Lời tục nói “con trai tinh khiết”

Gẫm lại thì có khiết gì đâu!

Đôi ngày chẳng tắm thử coi

Tới gần sẽ biết tanh hôi thế nào

Cũng lắm kẻ dồi trau thân xác

Nhưng về sau lúc thác còn chi

Tắt hơi cơ thể xanh rì

Sình lên xọp xuống rồi thì rã tan…

“Xưa có nàng Ma Đăng Già nữ

Thấy A Nan lịch sự vẹn toàn

Nàng toan làm chuyện dâm loàn

Dùng tà thuật bắt A Nan vào phòng”

Nhờ Đức Phật thần thông quảng đại

Nên chi nàng khó hại A Nan

Quá thương, nàng chẳng ngỡ ngàng

Quyết đòi cho được A Nan làm chồng…

Phật tươi tỉnh môi hồng ướm nở

Ngài gọi rằng: “Này hỡi Ma Đăng!

Nàng thương mến lắm phải chăng?

Nhưng nàng thương mến A Nan cái gì?

Nàng vội đáp: “Thương thì đôi mắt

Thương A Nan gương mặt tự nhiên

Thương ông đôi mắt hữu duyên

Như trăng khuya lửng… dịu hiền xinh tươi”

Phật nghe nói, mỉm cười đáp lại:

“Này Ma Đăng! Nàng hãy nghe đây

Nàng ơi! Nàng chớ mê say

Ôi thôi! Đôi mắt đủ đầy thứ dơ

Sáng ngủ dậy, nhớp nhơ ghèn cháo

Lúc bịnh tình máu mủ hôi tanh

Nàng thương chi cái chẳng lành

Nàng thương chi cái hôi tanh nực nồng?”

Nàng lại nói: “Thương ông cái miệng

Giọng dịu dàng thêm tiếng thanh tao

Môi ông ướm nở hồng hào

Xinh tươi như đóa anh đào sơ khai…”

Phật thương nói giãi bày cặn kẽ

Rằng: “Miệng người sạch sẽ chi đâu

Thân người nó trược đứng đầu

Sáng ngày chẳng súc tanh hôi khôn lường”

Nàng túng thế, nói “Thương tất cả

Thương khắp cùng thân thể A Nan”

Mỉm cười, Phật mới dịu dàng:

“Này Ma Đăng hỡi! Xin nàng nghe đây…

Thân A Nan đủ đầy ô trược

Có những điều khó được nói ra

Nhưng đây Ta chỉ sơ qua

Nàng nên bình tĩnh để mà lắng nghe

Đôi mắt thì ghèn che nhơ nhớp

Lỗ tai thì nhiều lớp nực nồng

Lỗ mũi, chất trược ẩn trong

Miệng răng lắm thứ khó lòng nói ra…

Chỗ tiêu tiểu thật là quá tệ

Xem khắp cùng thân thể A Nan

Bên ngoài trơn láng mịn màng

Nhưng trong ẩn chứa muôn ngàn nhớp nhơ”

Phật khéo léo tùy cơ giảng giải

Ngài chỉ rành những cái gớm ghê

Chỉ rành những cái đáng chê

Pháp mầu buông tỏa hố mê lấp bằng…

Bừng tỉnh mộng, Ma Đăng tỉnh ngộ

Nàng ngượng ngùng xấu hổ ăn năn

May thay! Nàng có thiện căn

Thành tâm nguyện lãnh điều răn Phật truyền.

Hỡi những kẻ tu hiền đạo đức

Trọng làm chi hình thức bên ngoài!

Kim thân sao chẳng dồi mài

Nhục thân này phải có ngày tiêu tan.

Nghiệm kim cổ, nhiều trang quốc sắc

Mãi dồi thân quên mất chơn tâm

Tự do hành động lạc lầm

Để rồi tiếng xấu ngàn năm bia truyền.

Ai là kẻ hữu duyên hữu phước

Sống đương đời gặp được đạo chơn

Một lòng quy hướng không sờn

Mới mong cõi Phật đặt chân bước vào…

Biết tu rồi đừng trau thân thể

Cần dồi tâm đừng để lầm nhơ

Thân như túi đựng đồ dơ

Có ngày lủng bể nhớp nhơ tràn đầy.

Thân giả tạm này đây ô trược

Nào mấy người lường trước lược sau

Kim thân chẳng biết dồi trau,

Nhục thân sao lại chùi lau suốt ngày?

Nên phải chịu trần ai lặn hụp

Bởi do nơi lòng dục tánh phàm

Mong sao thỏa mãn lòng tham

Nên chi biển nghiệp phải cam hụp trồi

Lặn lội mãi luân hồi sanh tử

Dám khuyên người suy thử mà coi

Rán tu sẽ dứt luân hồi

Kim thân thanh tịnh đời đời không tan…

 

Quảng Trị, 28-5 Tân Sửu 1961

Một vị sư Khất Sĩ

 

TỊCH MẶC

 

Luận mãi không rồi chuyện thế nhân

Chi bằng mặc mặc dưỡng tinh thần

Tranh đua phải quấy là gươm búa

Biện bác hơn thua gốc hại thân

Giáo hóa bao nhiêu, bao tiếng oán!

Thi ân trọn kiếp, có gì ân?

Tham lam cố chấp là ngu xuẩn

Duỗi cẳng nằm yên lánh cõi trần.

 

TUỒNG HÁT

 

Cộp cộp, reng reng… kế mở màn

Kép đào vẽ mặt giả vua quan

Nào hia nào mão nào râu giả…

Cũng nịnh cũng trung cũng giặc loàn

Người thủ vai nghèo coi khốn khổ

Kẻ làm trưởng giả bộ cao sang

Sụp màn cởi bỏ râu, hia, mão

Rửa mặt thì ra kẻ điếm đàng!

 

ĐÁP HỌA ĐỐI Y VẬN

 

Cuộc thế vần xoay tựa mở màn

Đổi thay ngôi vị ấy vua quan

Hoan hô hưởng lộc khi bình tịnh

Đả đảo cầu vinh lúc giặc loàn

Định bá đồ vương mưu phú quý

Chọc trời khuấy nước mộng giàu sang

Rốt rồi bừng tỉnh Nam kha mộng…

Vui chẳng thấy đâu, khổ mọi đàng!

 

HỌA TIẾP Y VẬN

 

Mặt nhật chiếu soi tựa mở màn

Chọ đời đông đúc lắm bi hoan!

Chén cơm manh áo, kia giành giựt

Bã lợi mồi danh, nọ nổi loàn

Kìa rắn mọc sừng… xong kiếp khổ

Nọ rồng rụng cẳng, hết đời sang

Lên voi xuống chó như trong mộng

Đầu bạc mới hay đã lạc đàng…

 

CƯỜI KHÓC NÀO MẤY KHÁC

 

Cười sớm rồi đây lại khóc chiều

Khóc nhiều, cười chẳng có bao nhiêu?

Cười khan bởi thế hay đen bạc

Khóc hận vì đời quá trớ trêu

Cười đúng là người vui đạo nghĩa

Khóc lầm vốn kẻ nặng tình yêu

Cười đi chớ tưởng đời vô vị

Khóc mãi cũng không thoát bóng thiều.

 

CHIM ỤT VỚI CƯỠNG

Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

***

Thái dương vừa gác đảnh đồi

Vẹt màn sương phủ màu trời thanh trong

Nắng vàng nhuộm khắp non sông

Chim muông dường thể đẹp lòng ngợi ca

Cành cây Cưỡng đậu la đà

Thấy anh chim Ụt bôn ba chuyện gì?

Vội vàng Cưỡng hỏi việc chi?

Ụt liền cất tiếng một khi đáp lời

Ụt rằng: “Này bạn Cưỡng ơi!

Hôm nay tôi tính tìm nơi dọn nhà

Ở đây chẳng đặng anh à!

Đời sao lắm kẻ ác tà quá đi…

Tôi nào có tội tình chi

Đến đâu cũng bị người thì đuổi xua

Mỗi ngày hai buổi sớm trưa

Gặp tôi thì họ chửi đùa chẳng kiêng

Tên dài, cung lớn không hiền

Luôn luôn phòng sợ chẳng yên tấc lòng

Rủi ra mắc phải vướng vòng

Thì thôi tôi chắc hết mong sống còn

Nay tôi tính dẫn vợ con

Tìm nơi chốn khác lánh cơn tai nàn…”

Cưỡng nghe trong dạ chẳng an

Trách đời sao nỡ phụ phàng thế ni!

Vội vàng Cưỡng hỏi một khi:

“Chắc anh cũng có điều chi sai lầm?

Nên đời họ mới đành tâm!

Đuổi xô đánh đập độc thâm thế này!

Hôm nay gặp cảnh như vầy

Mong anh nói rõ tôi đây tận tường”

Ụt nghe, vẻ mặt sầu thương

Nghẹn ngào Ụt mới tỏ tường mấy câu:

“Đời tôi thật quá đau sầu

Thân tôi gặp lắm dãi dầu truân chuyên

Tại tôi ăn nói vô duyên

Tại tôi kêu tiếng chẳng hiền chẳng thanh

Tiếng tôi mà dịu như anh

Chắc đời chẳng nỡ đoạn đành đuổi xô

Tiếng tôi sao lại quá thô

Tiếng tôi sao lại hồ đồ chẳng thanh

Cao xanh ôi! Hỡi cao xanh

Tiếng tôi sao chẳng trong thanh như người?”

Nghe qua, Cưỡng bỗng bật cười

Dịu dàng Cưỡng mới đôi lời phân qua:

“Nay anh dầu có dọn nhà

Tìm đi nơi khác để mà náu nương

Tôi e còn phải sầu vương

Vì tiếng “ụt ụt” anh thường kêu vang

Người nghe khiến dạ bi hoan

Thì anh cũng khó ở an với đời

Anh nên kêu tiếng như tôi

Ở đâu cũng được người người mến ưa

Lời nói mình phải ngăn ngừa

Cộc cằn thô lỗ nên chừa bỏ ra

Nói lời thanh dịu hiền hòa

Đến đâu cũng được người ta kiêng vì

Lời hung tiếng dữ răn đi

Đừng kêu những tiếng sầu bi lạnh lùng

Thì đời họ sẽ trọng dùng

Chắc anh cũng được thung dung trọn đời”

Ụt rằng: “Này bạn Cưỡng ơi!

Tôi xin đa tạ những lời của anh

Từ nay tập nói lời lành

Tập kêu những tiếng trong thanh hiền từ”

Ánh vàng chói rực đẹp tươi

Vạn loài dường thể vui cười hân hoan

Ụt liền cất tiếng băng ngàn

Cưỡng thì cất tiếng chuông vàng ngân nga

Vậy khuyên cùng khắp gần xa

Biết tu, ngôn ngữ rán mà sửa trau

Nói lời chơn chánh ngọt ngào

Nói lời đạo đức thanh tao dịu dàng

Người tu thông thái khôn ngoan

Thốt lời như tiếng chuông vàng ngân nga

Trăm năm một kiếp người ta

Thác là thể xác, còn là thanh danh

Mở miệng lời nói hiền lành

Kim ngôn ngọc ngữ sử xanh bia truyền

Nhược bằng lời nói không hiền

Thì chiêu tai họa nhãn tiền chẳng chơi

Khuyên cùng tất cả mọi nơi

Giữ gìn cẩn thận chớ lời đơn sai

Ai người học đạo Như Lai

Hãy dùng lời nói mở bày pháp môn

Hãy nên cất tiếng ôn tồn

Phá tan những giấc mộng hồn tối đen

Miệng ta là cánh hoa sen

Một khi hé nở một phen thơm lừng

Tiếng ta là gió mùa Xuân

Một cơn thổi nhẹ muôn dân mát lòng.

Cai Lậy, 16-10 Canh Tý

Một vị sư Khất Sĩ

 

KHEN MỘT HUYNH VỪA XUẤT GIA

 

Khen huynh sớm lánh kiếp phù sinh

Chẳng để danh cương vướng vít mình

Mái tóc “Tăng-gô” đà vắng dạng

Hàm râu “cá chốt” đã tiêu hình

Con thơ bữa ấy cam đành đoạn

Vợ đẹp hôm kia cũng dứt tình

Hạnh ấy gương này lưu vạn thuở

Cầu huynh thoát khỏi kiếp linh đinh.

 

KHEN CÔ TÍN NỮ XUẤT GIA

 

Xét cạn nhiều lo thể mỏn mòn

Nên cô dõng mãnh biệt chồng con

Trâm cài lược giắt đà quăng mất

Chuỗi, nhẫn, kiềng, bông cũng chẳng còn

Má phấn từ đây thôi đánh phấn

Môi hồng buổi ấy hết thoa son

Mày cong, tóc uốn cam đành đoạn

Chú nguyện cho cô đạo quả tròn.

 

NGHI VẤN

 

Trân trọng vài lời kính hỏi ông

Đạo đời hai nẻo kẻ không thông

Ở trần sao gọi rằng ngu muội?

Tại thế vì đâu chẳng được trong?

Cực Lạc cảnh Tiên xa diệu vợi

Bồng Lai vui vẻ thiệt cùng không?

Băn khoăn thắc mắc lòng chưa hiểu

Ma, Phật là gì, kính hỏi ông?...

 

ĐÁP HỌA Y VẬN

 

Vắn tắt đôi lời đáp lại ông:

Đạo đời chi khó lại không thông!

Ở trần đa dục nên ngu muội

Tại thế vì tham chẳng được trong

Tiên cảnh rất gần khi ngộ đạo

Bồng Lai vui sướng chỗ tâm không

Nỗi lòng thắc mắc nay tường tất

Giác: Phật, Mê: Ma, đó bớ ông!

 

HỌA TIẾP BÀI II

 

Thối bộ hồi đầu thấy chủ ông

Đạo vui, đời khổ phải nên thông

Lòng không ham muốn không mê muội

Tánh chẳng tham lam sẽ sạch trong

Quy giới gìn tròn tâm Cực Lạc

Chay trường giữ vẹn thể không không

Giả chơn hư thiệt ông nên hiểu

Ma, Phật, Thánh, phàm bởi tại ông.

 

NGHIỆP KHẢO

(Giác quan kêu nài trong thời tu giờ Tý)

 

Đêm trầm lặng, tôi đang nằm thiu thỉu

Bỗng đồng hồ báo hiệu đến thời tu

Tôi lồm cồm ngồi dậy để công phu

Vào sơ định, tôi bắt đầu “tầm sát”

 

Được yên lặng, dường như trong giây lát

Bỗng thiu thiu vì hai mắt lim dim

Nhưng luôn luôn, tôi cương quyết cố kềm

Mà hai “mắt” cứ bảo nằm xuống ngủ

 

Nó lại nói: “Tu ban ngày cũng đủ

Bây giờ khuya, ngồi buồn ngủ chết đi”

Bỗng hai “chân” cũng rên rỉ ầm ì

Nó than bảo: “Giấc này ngồi nhức quá!”

 

Ủa! Sao “miệng” làm cái gì kỳ lạ

Nó than van: “Khát nước quá chừng sao?

Bây giờ khuya, biết định liệu lẽ nào?

Nếu không nước, thở ra vào bất tiện”

 

Nó lại nói: “Tôi phải đâu làm biếng

Nhưng ngặt vì khô nước miếng không thông

Cổ đã khô, dầu tu cũng chẳng xong

Mau đi uống, bằng không thì đi ngủ…”

 

Còn lỗ “mũi” cũng một dòng bảo thủ

Nó nói rằng: “Bây giờ ngủ phải hơn!”

Cũng khua môi, cũng tiếng huyễn giọng đờn

Cũng tìm cách thiệt hơn khuyên nên ngủ