CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC THẦN DIỆU CHỮA DỨT MỌI TÂM BỆNH CỦA CHÚNG SANH!

Thư viện Chánh Pháp / Tác phẩm mới / TRUNG GIANG KÝ SỰ - kỳ 41

Tâm Nguyên , Thứ Sáu 04-05-2018

 

Trung Giang Ký Sự – kỳ 41

 

 

 Hành Vân 

 

 

 

Đến đây, tôi bắt đầu tìm hiểu về hai giáo đoàn III và V.

 

Ngày mùng 3 tháng 9 năm Bính Thân 2016, Giáo đoàn III đăng cai khóa tu Giới Định Tuệ của Hệ phái tại Tịnh xá Ngọc Yên, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai. Đúng ra khóa tu thứ 20 này là đến phiên Giáo đoàn II, nhưng Giáo đoàn III đã xin đổi phiên để tổ chức khóa tu trên miền Cao nguyên, tránh tháng cuối năm ở đó thường bị lạnh.

 

Mùa mưa ở miền Trung và Cao nguyên vẫn còn, nên tôi chưa tiện đi lên đó. Thế rồi loay hoay lại đến tết, thêm tháng giêng trôi qua, kỷ niệm 63 năm Tổ sư vắng bóng cũng qua, mà mọi việc vẫn cứ để đó. Nhưng mấy ngày tết, sư Giác Luật ở Sông Cầu – Phú Yên vào chơi, thăm lại miền đất mà sư đã gắn bó mấy năm. Ghé Ngọc Đức, sư có nhắc đến sư Giác Châu, năm nay tuổi đã ngoài 80, ngày trước là đệ tử đức Thầy An, lâu nay đang tạm trú tại chùa Vạn Thiện ở Phú Mỹ. Tôi không ngờ là ở gần mình lại có một vị sư thuộc lớp lớn của Giáo đoàn III, vậy thì phải tranh thủ gặp sư Giác Châu một chút.

 

Cổng Khất Sĩ Môn, nhà Tăng I và tòa núi lớn nhất của Tịnh xá Ngọc Đức đã làm tạm ổn, sáng ngày 25 tháng 2 âm lịch tôi chạy xe xuống chùa Vạn Thiện ở chân núi Thị Vải thăm sư Giác Châu. Cảnh chùa to lớn, nhưng khuôn viên còn bề bộn cỏ rác, hẳn là hàng ngày không được quét dọn. Chạy xe qua dãy phòng Tăng bên trái tôi gặp hai chú tiểu khoảng mười tuổi. Bước xuống xe, vẫy một chú lại, tôi hỏi: “Có sư Giác Châu ở đây không, con?”. Chú nhỏ chắp tay thưa: “Dạ có, nhưng sư đi khất thực rồi.”. Tôi hỏi chỗ phòng sư, cám ơn chú nhỏ rồi về, và lưu ý một việc: thằng bé cũng gọi ngài là “sư”, không phải “hòa thượng” gì cả.

 

Xế chiều hôm đó tôi lại xuống Vạn Thiện. Hôm trước sư Giác Luật đã kể rằng: Trong lúc Tự tứ Tăng xong, đức Thầy An lấy tay vỗ lên trán mấy cái rồi người ngả nghiêng qua. Mấy sư thấy lạ, sao Thầy mới họp Tăng đó mà đã có chuyện gì? Sư Giác Châu người to lớn, ngồi gần Thầy vội tới bồng Thầy lên chạy vào cốc. Cho nên chắc sư Châu cũng biết nhiều về đức Thầy Giác An.

 

Đến trước phòng của người cần tìm, tôi dựng xe, sửa lại y phục một chút rồi bước đến gõ cửa và lên tiếng “A-di-đà Phật”. Cửa kính mở, một vị sư già to lớn bước ra, nói:

 

– Chào sư. Có việc gì không?

 

– Dạ, con xin phép gặp sư Giác Châu.

 

– Là tôi đây.

 

Nhà sư già bước đến bàn đá để dưới hiên, mé ngoài cửa phòng sư một chút, chỉ tôi ngồi đối diện, rồi chế nước trà mời khách. Sư chế ba tách, đẩy một tách qua bên tôi. Tôi thưa:

 

– Dạ, con nên gọi ngài là hòa thượng hay sao?

 

– À, không cần. Ai cũng gọi tôi là sư Châu. Hồi xưa ở trong đoàn thì khác, bây giờ sống bên ngoài, mình cũng hài hòa với anh em…

 

Thế rồi tôi trình bày lý do mình đến đây, sư Châu nói ngay:

 

– Chuyện đó sư nên gặp các vị trong đoàn, chuyện xưa tôi không nhớ đâu.

 

Tôi hiểu là sư không muốn nói, nên hỏi thăm chuyện này kia… Sư Giác Châu cởi mở kể sơ chuyện đời sư cho người đồng đạo mới biết mặt nghe. Sư người ở Ninh Hòa, đi tu rồi mỗi lần cắt Tăng đổi chỗ trụ sư đều xung phong về mấy tịnh xá ở vùng chiến tranh, ít có sư nào dám ở. Khoảng sau Giải phóng sư rời đoàn vào Nam, đi lang thang nơi này nơi kia, ghé Tịnh xá Trung Tâm đoàn IV, Tịnh xá Lộc Uyển chỗ hòa thượng Giác Đức (tức là sau khi thượng tọa Giác Huệ đã đi), Tịnh xá Ngọc Giang – Long Xuyên chỗ hòa thượng Giác Thảo đoàn I, rồi vô chỗ hòa thượng Giác Vạn… Sư ở ổn định chỗ đầu tiên là khu Núi Sập, nay là tỉnh An Giang. Cùng ở gần nhau có hai anh em sư Giác Hưng, Giác Triết đoàn I. Tôi hỏi:

 

– Có phải sư Hưng mà ai đụng đến y thượng của sư là sư cởi y ra đi giặt liền không?

 

– Đúng rồi. Phật tử hay ai đụng đến y của sư là sư đi giặt liền, sư không muốn y ô uế. Tôi cũng phục cái hạnh của sư! Sư Hưng chấp hạnh để tu, còn sư Triết thì phương tiện mặc đồ nâu trồng lúa. Sư Triết làm được hai mẫu, sau bị hai vợ chồng kia lừa lấy hết. (Sư Giác Hưng sau về Ngọc Quang – Sa-đéc. Một lần giặt y đem phơi, sư lấy khăn ướt lau dây phơi cho sạch, không ngờ dây có điện giật sư chết.)

 

Cái nết lập dị của sư Giác Hưng nổi tiếng, đã có nhiều người nói đến rồi. Cái này giống kiểu ngoại đạo Ấn Độ ngày xưa, đâu phải hạnh Khất sĩ, sư Châu phục thật chứ? Nghe nói ngoài sư Hưng còn có một sư khác dùng đũa gắp tiền, vì luật cấm sa-di lấy tay rớ đến tiền, bạc, vàng, của quý! Thảo nào hồi trước có một vị thượng tọa hàng lãnh đạo của Phật giáo Bắc tông cảm thán về các vị Khất sĩ là “Tu cái kiểu chi lạ!”. Nói chớ mấy sư đó thật thà, chẳng giống ngày nay có lắm nghệ sĩ muốn được nổi tiếng bằng mọi cách…

 

Ở miền Nam, sư Châu có mấy Phật tử Hòa Hảo thường tới lui giúp đỡ. Họ trồng lúa dùm sư, thu hoạch, rồi mượn số lúa đó. Dần dần số lúa trở nên nhiều, khi sư Châu không ở dưới đó nữa, khoảng năm 1980 lên khu Núi Dinh, họ bán lúa gởi tiền lên cho sư có điều kiện đầu tư. Từ đó sư ra công mở mang được một cơ sở lớn chín mẫu là Tu viện Pháp Viên. Còn ngài Giác Cầu thì khai phá bên kia, lập ra Tịnh xá Ngọc Thạnh.

 

Bấy giờ sư gia nhập Giáo đoàn V, rồi sư lại ra, để Pháp Viên lại cho giáo đoàn. Sư lên Đại Tùng Lâm cất cốc ở với quý thầy cả chục năm, chỗ bây giờ là Cực Lạc thế giới (phía trước trường học). Đến khi sư Châu bị trúng gió nặng thì thầy Minh Tài lấy xe chở sư về đây. Vừa rồi thầy Thiện Thuận về trụ trì chùa Vạn Thiện, lo trả nợ mấy tỷ. Thầy Thiện Thuận đề nghị sư Giác Châu làm viện chủ chùa Vạn Thiện để tiện coi ngó, nhưng sư từ chối, chỉ sống xuề xòa với chư Tăng thôi. Phòng sư đang ở lúc trước là phòng thầy Minh Tài, có máy lạnh, sư cao tuổi nên được ưu tiên ở…

 

Lần thứ hai tôi lại xin sư kể về đức Thầy Giác An và Giáo đoàn III, sư cũng từ chối. Sư đề nghị tôi nên ra Trung, gặp các hòa thượng Giác Chiến, Giác Hùng, Giác Thuận, Giác Phùng… Tôi hỏi chỗ ngài Giác Chiến, sư chỉ: “Ngọc Liên, ở Bình Định”. Tịnh xá này ở ngay quốc lộ I, đoạn qua thị trấn Bình Định, tôi thấy mấy lần mà chưa vào.

 

Đến khi tôi nhắc việc sư Giác Châu bế Thầy An chạy vào cốc, sư gật đầu nói: “Đúng, có chuyện đó.”, nhưng rồi sư lại nói chuyện khác. Sư kể ban đầu sư có duyên bên Thiền (Bắc tông), khi gặp hòa thượng Giác An thì sư xin theo, ngài nhận rồi cắt sư theo y chỉ trưởng lão Giác Phất. Hồi đó mấy lần Tự tứ, về giáo đoàn, vừa đảnh lễ đức Thầy thì ngài nói ngay: “Ông lên quỳ hương đi, chuyện gì xuống nói sau.”. Sư vâng lời lên chánh điện quỳ hương, do sư Liên đã thưa với đức Thầy chuyện của sư, nhưng dù sao quỳ hương vẫn tốt cho sư, được tiêu nghiệp. Pháp danh của hòa thượng Giác Trí ở Ngọc Sơn hiện nay là do sư đặt, sư lấy tên Trí ngoài đời của mình mà đặt. Bây giờ có lần sư đi hóa duyên ở Sài Gòn, lúc đứng đón xin xe đi về, hòa thượng Giác Tường đi ngang thấy, bảo tài xế dừng xe lại. Hòa thượng xuống nói nhỏ với sư Giác Châu:

 

– Bây giờ người ta cấm đi khất thực đó sư.

 

Sư trả lời nhỏ lại:

 

– Khất thực là pháp của Phật mà ai dám cấm, hòa thượng?

 

Kể tới đó sư Giác Châu đắc ý cười khà khà lớn tiếng. Giọng của sư mạnh, trong, và ngoại hình trông như mới ngoài 60. Năm nay sư đã 88 tuổi, tóc bạc hết, tướng mạo trông giống hòa thượng Quảng Độ, tay chân to kệch hơn. Đôi dép Lào tôi để dưới thềm, trên thềm là đôi dép Lào của sư Giác Châu, nó to gấp rưỡi đôi dép đồng dạng cùng màu vàng ở bên dưới. Một đời dấn thân trên con đường Khất sĩ, đến nay sư Giác Châu vẫn là một nhà sư giản dị, đó là cảm tưởng của tôi trong buổi sơ giao.

 

Rời Vạn Thiện, vừa ra cổng tôi rẽ phải vào Tịnh thất Vạn An thăm sư Minh Trang. Nghe nói thượng tọa Minh Điển thầy sư Trang mới mất hôm rằm, để vào hỏi thăm huynh đệ một chút…

 

*****

 

Ngày 28 tháng 5 năm 2017, tôi đi Bình Định cúng thất thứ ba cho hương linh bà Ngọc Thủ, thân mẫu của sư cô Thiền Liên. Lần này tôi lên chương trình đi luôn năm tỉnh miền Nam Trung bộ từ Bình Định trở vào để tìm hiểu về Giáo đoàn III. 3 giờ sáng hôm đó tôi dậy đi, hơn 6 giờ lên máy bay ở Tân Sơn Nhất và gần 8 giờ đã có mặt ở chỗ cúng, tại nhà số 41 đường Trần Phú, thị trấn Diêu Trì. Không hẹn mà gặp, hôm đó chư Tăng, Ni Ngọc Thiền về cúng có tám, chín vị. Mọi người thỉnh tôi thuyết pháp. Cúng xong, tôi ở lại thăm sư cô Thiền Liên, đã gần bốn năm kể từ khi sư cô ghé thăm Tịnh xá Ngọc Đức.

 

Buổi chiều hôm đó gia chủ đãi tôi món đặc sản bình dân là bánh tráng cuốn bánh hỏi và rau sống, chấm nước xì-dầu đâm xả ớt. Ông thí chủ của sư cô là ông Thiện Thuận và cô giáo Thúy em sư cô cũng lên ngồi chơi. Nghe nói việc tôi định làm nhân chuyến đi cúng này, mọi người nhắc đến ông Thiện Tôn ở gần đây là một Phật tử kỳ cựu đã tham gia dựng lên Tịnh xá Ngọc Long. Tôi đề nghị ông thí chủ dẫn qua nhà ông Thiện Tôn, ông hứa một lát đi, và nói trước cho tôi biết là người ta kỹ tánh. Tôi nghĩ là dĩ nhiên lớp Phật tử hộ đạo Khất Sĩ buổi đầu đều như vậy.

 

Lúc hai người bắt đầu đi thì đèn đường trước nhà đã sáng. Trời lất phất mưa, tôi lo ông cụ gần 80 tuổi bị trợt té, nhưng ông bảo không sao, rồi cứ đầu trần mà đi trước. Đi mấy chục mét tới Ngã Ba Diêu Trì ông rẽ trái vào hướng Tịnh xá Ngọc Long, đi khoảng thêm 200m thì bước qua bên kia đường là nhà ông Thiện Tôn. Hai người vào nhà ngồi, có một người cháu vô trong báo cho ông nội biết có khách đến tìm. Lát sau ông Thiện Tôn ra, trông trẻ hơn tuổi bát tuần, mang kính, mặc quần lửng (ngang ống chân, như phái nam Việt Nam ngày nay hay mặc), tác phong bình dân. Khi nghe tôi hỏi thăm về đức Thầy Giác An, về Giáo đoàn III buổi đầu theo những gì ông biết, ông cởi mở kể cho tôi nghe vài chuyện:

 

– Năm 1963 ông quy y với đức Thầy Giác An, pháp danh là Thiện Tôn. Qua năm sau, trong một lần Thầy về đây, thường là có một sư theo làm thị giả, hôm đó ông đang ngồi chơi với sư Giác Luận, khoảng 7 giờ rưỡi tối, thì thấy hai, ba chục đốm sáng bay qua lại dưới gầm cốc Thầy. Ông chỉ cho sư Luận thấy, sư nói chắc người âm họ mừng Thầy về…

 

– Có lần sư Giác Đăng kể với ông: Hồi đó theo Thầy, bảy ngày đầu đi khất thực chỉ được một trái chuối, đói chịu không nổi, định xin Thầy cho về đó chớ!

 

– Sư Giác Phất hay xé y thượng cho người. Mấy đứa nhỏ đau nhức chỗ nào sư xé một chút y cho, bảo đắp vào chỗ đó, hết đau! Rồi sư về tịnh xá tìm vải vá lại.

 

– Sư Giác Phất vô Nam, sư Giác Bạch trưởng đoàn V kéo vào cho sư một tấm y mới, sư mang về Ngọc Long. Hòa thượng Huyền Ấn nói với sư: “Tôi muốn đắp tấm y của mấy sư lắm mà chưa dám. Thôi sư cho tôi một tấm, khi nào tôi chết thì đắp liệm cho tôi!”. Sư Phất đem tấm y mới mang về cho, sau thầy Huyền Ấn chết đúng là có đắp tấm y casa của Khất Sĩ.

 

– Sư Nên em sư Dưỡng ở Ngọc Long. Thiện Tôn có đứa con trai út sanh non, liền đem đưa ngay cho sư đặt pháp danh, để có gì cũng còn duyên đời sau. Sư Nên nói: “Tôi chẳng nên gì cả, hễ muốn tu là sanh bệnh. Do đó Thầy đặt tôi pháp danh là Giác Nên. Con trai ông sanh buổi tối, thôi tôi đặt cho nó pháp danh là Huệ Sáng.”. Huệ Sáng còn sống tới bây giờ.

 

Kể vài chuyện về Thầy Giác An và quý sư xong, sẵn trớn ông Thiện Tôn lại hăng hái nói về những tâm đắc giáo pháp của mình cho nhà sư mới gặp mặt nghe. Ông nói về ba kỳ Phật giáo gồm có:

 

– Sơ kỳ Phật giáo: Phật giảng Tứ diệu đế cho các ông Kiều Trần Như…

 

– Trung kỳ Phật giáo: Phật giảng pháp duyên sanh, thấy rõ pháp bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh…

 

– Hậu kỳ Phật giáo: Phật giảng các pháp Thường, Lạc, Ngã, Tịnh cho hàng Bồ-tát Sơ địa trở lên.

 

Rồi ông lại nói qua Mật tông, tôi nghe một chút liền nhắc:

 

Chơn Lý có dạy bài Thần Mật.

 

Ông Thiện Tôn sôi nổi nhận xét ngay:

 

– Tổ sư mình dạy khác. Thần mật của người ta là hữu tướng, của Chơn Lý là vô tướng: ba nghiệp mật. Thân mật là không hay làm, khẩu mật là không hay nói, ý mật là không hay tưởng…

 

Ông cụ cư sĩ kỳ cựu ở Diêu Trì nói cũng có lý, lâu nay tôi chưa nghĩ đến điều đó. So với ba kỳ Phật giáo thì bộ Chơn Lý là kỳ thứ mấy? Ba kỳ Phật giáo ông Thiện Tôn nói chính là ba giáo lý Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát của đức Phật dạy trong một đời giáo hóa của ngài. Nhà Khất Sĩ nối truyền Chánh pháp Thích-ca nên đã kế thừa tất cả chánh pháp, bộ Chơn Lý đã nêu ra ba hạng khất sĩ là khất sĩ Thanh văn, khất sĩ Duyên giác và khất sĩ Bồ-tát. Vậy đặt ra nghi vấn bộ Chơn Lý là kỳ Phật giáo thứ mấy chi bằng xét xem các nhà khất sĩ kế thừa ngài Minh Đăng Quang đã triển khai những dạng giáo pháp nào? Trong nền Phật giáo Việt Nam đương đại, mấy chục năm qua nhà Khất Sĩ đã nổi bật lên với giới hạnh y bát và đoàn thể Tăng-già. Đó là hình thức, còn bên trong những nổi bật đó là gì, ta phải xét xem.

 

Hai người ngồi đối nhau nói chuyện, ông Thiện Thuận ngồi chung ghế kế một bên tôi. Đến khi ông Thiện Thuận cất giọng khàn khàn nhắc về cái bằng khen của hòa thượng Giác Lượng ở Mỹ cấp cho ông Thiện Tôn, ông cụ chủ nhà liền chỉ lên vách cho tôi thấy. Tôi mượn xem, rồi lấy máy chụp làm tư liệu, chứ buổi tối khó mà chụp rõ nó, vì nếu dùng đèn sẽ bị chói hình. Tấm hình đó cho biết mấy thông tin: Vào ngày 10 tháng 10 năm 2010, tại California, Hoa Kỳ, ngài Trưởng Đoàn Du Tăng Thế Giới là hòa thượng Giác Lượng đã cấp bằng tưởng lệ công đức cho đạo hữu Thiện Tôn đã trọn đời phụng sự Phật pháp, hộ trì Tam Bảo. Tôi không biết Đoàn Du Tăng Thế Giới của hòa thượng Giác Lượng bên Mỹ, nhưng tôi biết là mọi người đều nhắc đến ông Thiện Tôn khi về Tịnh xá Ngọc Long, điều đó rất đáng trân trọng.

 

Cuối buổi, vị cư sĩ chủ nhà nhắc tôi nên ra Tịnh xá Ngọc Hòa ở Nhơn Lý, nơi đó có mấy vị cư sĩ lão thành là đệ tử đức Thầy Giác An. Và không hẹn mà cả hai ông cụ đều hỏi tôi: “Tối nay sư nghỉ ở đâu?”, tôi đáp: “Dĩ nhiên là sư về tịnh xá nghỉ, không Ngọc Long thì Ngọc Nhơn.”. Đáp xong liền nhận thấy vẻ hài lòng của hai ông già, bấy giờ tôi mới biết người ta đang xét nét mình chuyện gì.

 

*****

 

Rời nhà ông Thiện Tôn, tôi có được một hướng đi: phải ra Ngọc Hòa. Nhưng theo lời mời của sư cô Sen Liên, tôi đón xe đi hơn 30km ra Tịnh xá Ngọc Như tại Phù Cát, phía đối diện Bến xe Phù Cát mới, chỗ sư cô Sen Liên trụ trì. Tối hôm đầu tiên của chuyến đi miền Trung tôi nghỉ ở đó. Ngày trước sư cô Sen Liên đã từng tu ở Tịnh xá Ngọc Thiền, nên sư cô tiếp đãi tôi như với các sư huynh.

 

Đi thăm Ngọc Như vốn không có trong lịch trình làm việc, nhưng không ngờ việc đó lại có ý nghĩa. Khi ba người đi tắc-xi đến Tịnh xá Ngọc Như là đã hơn 9 giờ tối, mọi người chào hỏi nhau xong thì chủ nhà lo mời khách đi nghỉ. Trước khi nghỉ, tôi xé một cái phong bì làm giấy ghi lại những điều được biết ở nhà ông Thiện Tôn. Ghi xong, tôi kiểm tra lại máy thu âm vì khi nãy lúc lấy ra dùng thì nó báo là không có thẻ nhớ. Ngồi nghĩ một lát mới nhớ mình đã tháo cái thẻ để chép vô máy vi tính mà chưa gắn lại, nên tôi lấy thẻ khác tạm gắn vào cho nó.

 

Lần này đi Bình Định, cả ba, bốn ngày đều mát, thỉnh thoảng có mưa. Đêm đầu ở Ngọc Như cảm thấy mình đang ở một chốn làng quê nghèo yên bình. Ngả lưng nằm chưa được mấy phút thì tôi đã ngủ lúc nào không hay, trong đêm cũng chẳng hề nghe tiếng xe lửa nào chạy qua, tuy đường sắt Bắc Nam ở phía trước tịnh xá chỉ khoảng 30m. Sáng sớm, sư cô trụ trì bưng nước lên mời, tôi hỏi thăm về ngôi tịnh xá này. Sư cô Sen Liên kể:

 

– Nghe nói hồi đó ở xã Cát Sơn gần đây có ông bán vải. Khi vô Quy Nhơn buôn bán ông nghe người ta đồn sư Giác Kinh tu phóng hào quang, nên ông theo sư học đạo. Học được đạo rồi ông thôi buôn bán, về Cát Sơn tu ở hang đá trên núi. Có mấy người theo ông tu, họ cất ra cái tịnh xá, một sư về chứng minh đặt tên là Ngọc Như Nhơn.

 

Không ngờ cái tịnh xá trông tầm thường thế này, còn chưa có chánh điện bát giác, chưa có khu biệt thất cho người xuất gia, cây bồ-đề còn nhỏ, lại được lập ngay thời ban đầu Đạo Phật Khất Sĩ ra miền Trung Việt, cuối thập niên 1950. Tôi liền hỏi:

 

– Năm đó năm nào, sư cô?

 

Sư cô Sen nhỏ nhẹ đáp:

 

– Dạ, năm 1959. Mà lúc đầu tịnh xá cất trên núi, sau chính quyền bắt xuống, họ mới làm ở đây. Họ làm một cái nhà cấp bốn nhỏ nhỏ để thờ Phật, được như hiện nay là do con sửa thêm mấy lần.

 

Ngọc Như hiện nay chỉ là một cái nhà cấp bốn to cỡ 30 x 15m, bên trong chia làm nhiều phòng. Tôi hỏi thêm:

 

– Địa phương này tên gì, sư cô?

 

Sư cô đáp:

 

– Ở đây thuộc thôn Phú Kim, xã Cát Trinh, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.

 

– Rồi sao bây giờ để tên Ngọc Như?

 

– Mười mấy năm trước lúc con mới về đây còn thấy cái bảng tên tịnh xá là Tịnh xá Ngọc Như Nhơn bên nhà ông kia, ổng lấy làm vách nhà bếp của ổng.

 

– Sao ổng dám?

 

– Con không biết, chắc người ta thay cái bảng tên mới, nên lấy cái cũ xài.

 

Bài Trung Giang Ký Sự số 39 đã nhắc đến sư Giác Kinh qua vài lời kể của hòa thượng Giác Ngộ, có thể xem như giới thiệu về sư:

 

“Năm 1957, tháng 9, ngày 18 âm lịch hòa thượng xuất gia theo Giáo pháp Khất sĩ tại Ghềnh Ráng, Quy Nhơn; sư Giác Kinh thâu nhận đặt pháp danh là Giác Ngộ. Ba ngày sau, người thứ hai xuất gia là Giác Duyên, một tháng sau là Giác Cảnh, tháng kế là Giác Linh, tới tết năm 1958 là Giác Sanh và sau tết là Giác Luận xuất gia. Sau khi nhận người, sư Giác Kinh dẫn về Phan Thiết cho thầy là trưởng lão Giác An chứng minh. Từ đó bắt đầu thành lập được một đoàn, công lớn là do sư Giác Kinh.

 

Qua năm 1958 sư Giác Kinh vào Nam hiến máu nhiều, bị bệnh, hai mắt không nhìn thấy được nữa, nên Pháp sư Giác Nhiên nhờ một bà Phật tử ra Phan Thiết nhắn Giác Ngộ vào nuôi. Sau khi mắt phục hồi nhãn lực lại sư Giác Kinh đã gởi Giác Ngộ cho Pháp sư rồi sư đi. (Sư Giác Kinh về quê ở Chợ Lầu – Phan Thiết cất cốc trong vườn nhà tu. Tại đó sư nhận thêm hai vị xuất gia là Giác Thạnh và Giác Phụng, rồi lại gởi họ theo ngài Giác Tịnh. Sau sư Kinh về thế, lập gia đình sống ở Long Hải.)”

 

Bây giờ sư cô Sen Liên đã nhắc đến sự kiện sư Giác Kinh tu phóng quang, vậy ta sẽ tìm hiểu rõ ràng hơn về sự kiện đó. Năm 1957, ngài Giác An xin phép Giáo hội ở lại miền Phan Thiết hành đạo. Bấy giờ ngài nhận người đệ tử xuất gia đầu tiên đặt pháp danh là Giác Đạt, người thứ hai là Giác Kinh. Nguyên Giác Kinh vốn là một sa-di xuất thân từ một chùa Bắc tông, tuổi ngoài 30, vì cảm mộ hạnh Khất sĩ mà xin làm đệ tử ngài Giác An. Do đã có quá trình xuất gia mấy năm nên ngài Giác An sắp sư đi trước sư Giác Đạt.

 

Sau khi có được y bát Sa-di, học được Tứ y pháp và các cách thức của hạnh Khất sĩ, sư Giác Kinh xin thầy ở lại Quy Nhơn hành đạo. Bấy giờ sư phát tâm bố thí máu, mà sư gọi là bố thí vô úy, phải ra tới bệnh viện ở Huế để hiến. Sư Kinh ở tu tại Ghềnh Ráng (Gành Ráng), bên bờ biển Quy Nhơn, trên một gộp đá ngay trước lầu Bảo Đại, (còn mộ Hàn Mạc Tử ở phía trong nữa.) Hàng ngày sư Giác Kinh xuống xóm làng đi khất thực, người ta biết nhà sư ở tu phía trên đó. Một vài lần dân làm biển ở Ghềnh Ráng nhìn lên phía trước lầu Bảo Đại thấy có một vầng sáng trong đêm tối. Họ rủ nhau lên xem chỗ đó thì chỉ thấy nhà sư đang ngồi tu trên gộp đá. Thời ấy không có điện, lầu Bảo Đại đã bị dân đập hoang tàn từ năm 1949 để tiêu thổ kháng chiến, thì vầng sáng đó làm sao có? Việc một vầng sáng trong đêm tối mấy lần xuất hiện phía trước lầu Bảo Đại rõ ràng là có, nhiều người thấy, thấy từ xa dưới biển, mà lên xem thì ngoài sư Giác Kinh đang ngồi tu ở đó ra không còn gì khác, nên mọi người đồn lên là sư Kinh tu phóng hào quang.

 

Tiếng đồn với sức mạnh hơn thủy triều của nó đã làm chấn động nhân tâm, khiến cho người Quy Nhơn và cả các nơi khác của Bình Định kéo nhau lên tín ngưỡng nhà sư khổ hạnh là ngài Phật sống. Bấy giờ có tay nhiếp ảnh lén chụp hình sư Giác Kinh ngồi thiền buổi trưa (theo bóng nắng chỗ cổ sư), rồi đem rửa hình phổ biến ra. Vì thời đó chưa có máy chụp trong đêm tối, cũng chưa có hình màu, nên chỉ có MỘT tấm hình trắng đen đó.

 

 

 

 

Sư Giác Kinh, hình trái sưu tầm ở Ngọc Long, hình phải sưu tầm ở Ngọc Như, ngày 17/6/2017.

Xét hai hình giống nhau mà có góc lấy xa gần khác nhau, đặc biệt là các vết ố giấy ở hình này đều có ở hình kia, vậy hình ở Ngọc Long là hình chụp lại hình ở Ngọc Như, mất phân nửa dưới tảng đá.

Nguyên màu như thế, chưa có chỉnh sửa cho sáng hơn.

 

 

Với lòng kính trọng của mình, dân Quy Nhơn đã cất tịnh xá trước phế tích lầu Bảo Đại cho sư Giác Kinh tu. (Cha và chú Sáu của hòa thượng Giác Ngộ đã cùng mọi người cất.) Đó là một nhà cây lợp mái lá tranh, rộng khoảng 5 x 10m. Sau đó bắt đầu có người dẫn con lên xin được xuất gia học đạo, sư Giác Kinh (tuy còn là Sa-di trong Giáo pháp Khất sĩ) đã thâu nhận, trong vòng năm tháng nhận sáu vị là Giác Ngộ, Giác Duyên, Giác Cảnh, Giác Linh, Giác Sanh và Giác Luận.

 

Tết năm 1958, từ mùng 1 tới mùng 8, dân chúng lên tịnh xá ở Ghềnh Ráng xin quy y Tam Bảo hơn 6000 người. Chính tập sự Giác Ngộ khi đó đã ngồi ghi danh sách. Cứ mỗi lần sư Giác Kinh giảng Tam quy và làm lễ quy y Tam Bảo cho khoảng sáu, bảy chục người, ngồi chật tịnh xá, nhóm này vừa ra lại có nhóm khác kéo vào, từ sáng cho tới tối. Người ta kính trọng sư Kinh hơn thầy sư Kinh, khi gặp sư Kinh họ đảnh lễ, gặp ngài Giác An họ chỉ xá chào.

 

Nói về ngôi tịnh xá của sư Giác Kinh, nó có phải là tịnh xá đầu tiên của Đạo Phật Khất Sĩ ở miền Trung Việt, và là tịnh xá đầu tiên của Giáo đoàn III không? Hòa thượng Giác Ngộ bảo Ngọc Cát là tịnh xá đầu tiên của Giáo đoàn III, ngài kể thế này: Sau khi xuất gia một thời gian, sư Kinh dẫn Giác Ngộ, Giác Duyên vào Phan Thiết trình với Thầy An. Tại đồi cát mấy thầy trò cùng nhau cất Tịnh xá Ngọc Cát. Khi đào đất, Giác Ngộ đào trúng một cái hủ sành, trình với Thầy An thì ngài bảo mở ra xem bên trong có gì. Mở ra, thấy bên trong có một cái sọ người với nguyên một bộ tóc dài. Đấy chắc là một cô gái đã bị Pháp giết hại, cắt đầu bỏ hủ đem chôn đó… Về vấn đề tịnh xá nào có trước ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn.

 

Trong khi Đạo Khất Sĩ mới được thành lập tại miền Nam Việt có mười năm, 1947 – 1957, Đoàn Du Tăng Khất Sĩ mới ra miền Trung Việt lần thứ hai[1], xem như chưa có ảnh hưởng nào đáng kể, người miền Trung Việt chưa biết rõ về đạo này, thì nổi lên sự kiện sư Giác Kinh tu phóng hào quang ở Ghềnh Ráng. Sự kiện đó đã làm hàng ngàn người chú ý tới Đạo Khất Sĩ. Vậy bước đầu có thể tạm nhận định rằng sự kiện sư Giác Kinh tu phóng hào quang ở Ghềnh Ráng có tính cách là một sự kiện lịch sử của Đạo Phật Khất Sĩ ở miền Trung Việt và của giới tôn giáo ở Bình Định.

 

Nhưng ta vẫn lưu ý ở đây rằng: Tuy là một sự kiện lịch sử nhưng thật chất nó là tiếng vọng của nhân tâm, là ao ước thiêng liêng tiềm ẩn trong một cộng đồng đã có niềm tin tôn giáo bén rễ từ lâu. (Xét rộng ra thì cả thế gian cũng đều là tiếng vọng của chúng sanh tâm.) Chưa ai thấy sư Giác Kinh phóng hào quang, chính sư cũng chưa thừa nhận điều đó, tấm hình sư Kinh ngồi tu trên tảng đá được phổ biến trong dân chúng Quy Nhơn, Bình Định đơn giản là hình một nhà sư đang tọa thiền. Tấm hình đó thật đẹp, nó nói rằng: “Tu là như thế!”, chứ không phải ở chỗ ấm êm, mũ cao áo rộng, lo cúng vái cầu nguyện, ê a tụng niệm, chùa tháp nguy nga, tượng đài biểu trưng đủ dạng, âm thanh sắc tướng đậm đà tôn giáo… Có thể ơn trên Hộ pháp đã thị hiện, ứng vào một nhà sư có hạnh tu tốt và có duyên với dân Quy Nhơn – Bình Định, để tạo hiệu ứng quảng cáo cho một mối đạo mới mẻ chăng?

 

Sự phóng hào quang là một việc có thật của các nhà tu hành đã nhập được chánh định. Thuở xưa đức Phật Thích-ca hiện diện nơi nào là hào quang của ngài tỏa sáng cả vùng, đúng là siêu nhật nguyệt quang. Bởi do ngài đã thành tựu được công đức tối thượng nên mới có công năng vĩ đại đó.

 

Sau khi sư cô Sen Liên nhắc đến sư Giác Kinh, tôi đã hỏi sư cô có hình sư không? Tôi đã từng nghe ông Ba Mẹo, vốn là một huynh trưởng cấp Tấn của Gia đình Phật tử ở Quy Nhơn từ lâu, kể sơ qua về tấm hình này từ hơn 15 năm trước, khi ông làm công quả ở Tịnh xá Ngọc Thiền – Đà Lạt. Sư cô Sen nói lúc về nhận tịnh xá này sư cô có thấy hình sư Kinh thờ ở bàn thờ Tổ, nhưng gần đây không biết đâu mất rồi. Lúc trước sư cụ Bình ở Ngọc Long có lên đây mượn hình sư Kinh để chụp lại. Tiếc thật, nhưng tôi đã có thêm một hướng đi: phải tìm hình ảnh, cùng thân thế và đạo nghiệp của sư Kinh, để viết đầy đủ hơn về nhân vật này. Nghe nói ngoài hòa thượng Giác Ngộ còn có sư cụ Giác Linh, hiện cũng đang ở Bình Định thì phải…

 

Sáng, mọi người điểm tâm với các món bình dân: bánh tráng cuốn bánh xèo và rau sống, chấm nước xì-dầu đâm xả ớt, còn có bánh bèo nữa. Lần đầu tiên tôi thấy loại bánh xèo vỏ của Bình Định, nhỏ bằng bàn tay, màu trắng, không có nhân. Ngồi một lát có cậu của sư cô Sen đem mấy bao đậu phụng đến cúng dường, nhưng cả tôi và sư cô Thiền chỉ có thể nhận tấm lòng của người hảo tâm mà thôi. Do vậy cô Thúy đã lấy một ít đem luộc, vậy là có thêm một món điểm tâm nữa.

 

*****

 

 

 

Tịnh xá Ngọc Liên – Bình Định

 

 

Khoảng hơn 8 giờ tôi vô thị xã An Nhơn để gặp hòa thượng Giác Chiến ở Tịnh xá Ngọc Liên, có hai sư cô Thiền Liên và Sen Liên đi cùng. Khi ba người đón xe Đà Nẵng – Quy Nhơn đến nơi đã hơn 10 giờ rưỡi. Hòa thượng Giác Chiến đi cúng chưa về, đại đức Giác Ngôn trụ trì tịnh xá đi vắng, chỉ còn sư Giác Ngọc và một chú tập sự lớn tuổi đang ngồi học Luật. Hai sư cô xin nấu cơm ăn, còn tôi lên chánh điện đi một vòng.

 

Tịnh xá Ngọc Liên được kiến thiết theo mô hình của Tịnh xá Trung Tâm Giáo đoàn IV, tức là theo mô hình trụ sở của Hệ phái Khất Sĩ. Trong điều kiện mặt bằng giới hạn, vì các địa phương dần dần đều đô thị hóa, người dân ở khít bên các tịnh xá, thì mô hình này tiện dụng. Nhưng theo Giáo pháp Khất sĩ, mô hình một ngôi tịnh xá phải có khu biệt thất cho người xuất gia, để có không gian riêng cho người tu sinh hoạt, tránh những phiền nhiễu của thế gian pháp. Ai cũng thấy Tịnh xá Trung tâm chỉ là nơi tổ chức những sinh hoạt hành chánh và lễ hội của giáo đoàn cùng hệ phái, ngoài ra còn là nơi cho Tăng sinh ở đi học, chứ không phải là nơi để chuyên tu.

 

Trong chánh điện, nơi bàn thờ Tổ sư, phía dưới hình Tổ Minh Đăng Quang có để tấm hình đức Thầy Giác An, vị sáng lập Giáo đoàn III. Tấm hình này ban đầu là hình trắng đen, nhưng đã được tô màu, do vậy tôi đã chụp lại để làm tư liệu.

 

 

 

Trưởng lão Giác An, 1901 – 1971.

 

 

Khoảng nửa tiếng sau hai sư cô dọn cơm ra, sư Giác Ngọc không dùng, chỉ có ba người khách và chú tập sự ăn cơm. Một lát sau hòa thượng Giác Chiến về, cùng đi có các đại đức Giác Trực ở Ngọc Nhơn, Giác Tạo ở Ngọc Long và một sư trẻ ở Tịnh xá Quan Âm (do hòa thượng Giác Sáng lập). Hòa thượng trông già, thấp và hơi mập, dáng đi và ánh mắt chậm rãi, ngài đi thẳng vào phòng phía sau giảng đường. Tôi lại chào đại đức Trực, hỏi thăm huynh đệ một lát, rồi đắp y lên nhà khách phía sau giảng đường đảnh lễ và thưa chuyện với hòa thượng. Ngài mời tôi ngồi vào bàn, đưa chai nước và nói chuyện. Tôi thưa:

 

– Bạch hòa thượng, con đang tìm hiểu về đức Thầy, về Giáo đoàn III. Thỉnh hòa thượng kể về những kỷ niệm của hòa thượng với đức Thầy, về giáo đoàn mình. Bởi mỗi người có những kỷ niệm riêng, mà bản tiểu sử đức Thầy thì ngắn gọn quá…

 

Hòa thượng Giác Chiến chăm chú nhìn và nghe tôi nói rồi đáp:

 

– À, mà cũng không rành lắm đâu.

 

Tôi nói tiếp:

 

– Bây giờ trong giáo đoàn mình thì hòa thượng cũng là lớp lớn, các vị khác cũng đã mất hết rồi.

 

Hòa thượng nhắc:

 

– Như ngài Hùng nè,

 

– Con biết, nhưng ngài Hùng lại có những kỷ niệm riêng của ngài.

 

– Trò cũng ra sớm nên cũng không có gì.

 

Hòa thượng khiêm tốn quá, cũng có thể là thận trọng với người mới gặp lần đầu, thôi tôi chủ động hỏi thăm cho hòa thượng trả lời. Hòa thượng Giác Chiến người Phú Yên, gặp đức Thầy Giác An tại Tịnh xá Ngọc Phú – Tuy Hòa khi tịnh xá mới thành lập. Hòa thượng tuổi Tý (1936), xuất gia năm 1962, đi kế sư Giác Lượng (nay ở Mỹ). Khi đó Tăng chúng trong giáo đoàn khoảng hơn 40 vị, có các sư Giác Biên, Giác Giáo... Đến khi khánh thành tịnh xá ở Buôn Ma Thuộc thì giáo đoàn có cả trăm vị. Theo sự phân công của thầy, hòa thượng cũng đã về ở các tịnh xá tại Kontum, Gia Lai, Nhơn Lý… Năm 1969 hòa thượng Giác Chiến về Bình Định khai sơn Tịnh xá Ngọc Liên, sau khi đã ra đoàn đi tu tịnh.

 

Khi tôi hỏi thăm, hòa thượng trả lời vắn tắt rồi cũng hỏi lại tôi chuyện gia đình, chuyện đi tu này kia… Hơn năm phút sau hai sư cô Thiền và Sen lên đảnh lễ, thỉnh hòa thượng về Tịnh xá Ngọc Long cúng chung thất cho mẹ sư cô Thiền. Hòa thượng hỏi rõ ngày và nơi cúng, chúc hai sư cô tu hành tinh tấn, và hỏi thăm chỗ trụ của hai sư cô. Khi biết tôi cũng có nhận lời cúng hòa thượng nói:

 

– Ở lại nghe đại đức (ở lại Ngọc Liên).

 

Tôi thưa:

 

– Dạ không. Con gặp hòa thượng rồi xin phép lên Tây Sơn gặp sư cụ Giác Linh.

 

Hòa thượng Chiến nói:

 

– Vừa rồi gần đi đó.

 

– Vậy hả, hòa thượng?

 

– Quý sư lên tụng Thủy Sám ba đêm, giờ sư cụ dậy ăn cháo, ăn cơm được.

 

Tôi hỏi:

 

– Bạch hòa thượng có biết sư Giác Châu không, bây giờ ở Bà Rịa – Vũng Tàu gần chỗ con.

 

– Sư Châu cất cốc trong Đại Tùng Lâm phải không?

 

– Dạ phải. Chính sư Châu giới thiệu con ra Ngọc Liên gặp hòa thượng.

 

– Ờ, sư Châu người ở Ninh Hòa, đi sau trò.

 

– Sư về Núi Dinh khai sơn được Tu viện Pháp Viên, rộng cả chục mẫu.

 

Hòa thượng lẩm nhẩm “Pháp Viên” rồi nói:

 

– Hồi ở Diêu Trì có sư Giác Liên vô ở Pháp Viên.

 

Tôi chợt nhớ sư Liên hay cắm hoa ở Tịnh xá Trung Tâm – Phú Lâm nên nói:

 

– Con nhớ rồi, bây giờ sư đó qua Mỹ ở.

 

– Vậy hả?

 

– Dạ, dạ…

 

Lát sau tôi lại hỏi:

 

– Hồi đó ngài An tổ chức giáo đoàn nghiêm không, bạch hòa thượng?

 

– Ngài nghiêm chớ. Ngài có tướng Tăng.

 

 

 

 

Tướng đoan nghiêm của trưởng lão Giác An đã cảm hóa được dân miền Trung

Hình sưu tầm ở Tịnh xá Phổ Hiền.

 

 

 “Thầy có tướng Tăng” là ấn tượng chung của quý vị Tăng, Ni đệ tử ngài Giác An về đức Thầy của mình, sau 19 ngày đi khắp miền Trung và Cao nguyên tìm hiểu tôi đã biết được điều đó. Xưa Anan đi tu theo Phật vì cảm mến Phật có tướng hảo, mà chắc rằng tướng tốt đó không phải do dục vọng sanh ra được. Do cảm mến hình tướng đoan nghiêm tốt đẹp của một nhà sư mà theo làm đệ tử là chuyện không lạ. Nhưng nếu chỉ thấy thầy mình ở hình tướng thôi thì chưa thể là học trò kế thừa thầy, chắc chắn vậy. Tôi hỏi tiếp:

 

– Hồi đó mỗi lần tự tứ lâu không, hòa thượng?

 

Hòa thượng Giác Chiến thong thả nói:

 

– Lâu. So với hồi đó bây giờ cách xa nhiều.

 

Hai người còn nói thêm vài chuyện, sau đó tôi hỏi:

 

– Bạch hòa thượng về lại giáo đoàn năm nào?

 

Hòa thượng đáp:

 

– Mới về cách đây hai năm. Về sau nên phải ở sau hết đó.

 

Tôi nói liền:

 

– Con nghĩ chuyện đó bây giờ không quan trọng.

 

Hòa thượng Chiến bật cười, tôi giải thích tiếp:

 

– Bởi vì mình sinh hoạt chung trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam mỗi địa phương mà.

 

– Ờ, mình làm tốt thì được.

 

– Dạ đúng vậy.

 

Bấy giờ hòa thượng Giác Chiến bảo:

 

– Đại đức nghỉ một chút.

 

Tôi thưa:

 

– Dạ thôi, con xin gặp hòa thượng là chính, con muốn nghe cuộc đời hành đạo của hòa thượng. Hồi đó hòa thượng về đây thì sao?

 

Hòa thượng cười, nói cũng quên rồi. Tôi hỏi tịnh xá xây lại năm nào, hòa thượng bảo là hơn mười năm, do sư Ngôn làm… Lần đầu gặp và tiếp xúc với hòa thượng Giác Chiến, tôi thấy ông cụ giống hòa thượng Giác Dũng trưởng giáo đoàn: mềm mỏng và khôn khéo, nhưng giọng nói ấm hơn. Ở Ngọc Quang có chúng đông, còn ở đây chỉ có bốn thầy trò, lại phải quản lý ba điểm là Ngọc Liên, Thanh Liên gần đó, và Ngọc Giác ở An Khê. Nhưng chuyện đâu còn có đó…

 

 

 

Hòa thượng Giác Chiến ngồi bên phải, đang thăm sư cụ Giác Linh.

 

*****

 

Khoảng 1 giờ trưa, khi nghe tôi hỏi chỗ sư cụ Giác Linh để một lát ra thăm, hòa thượng Giác Chiến cũng muốn đi, vì sư cụ bị bệnh nặng mới vừa khỏe lại. Hòa thượng gọi một chiếc taxi, cùng tôi và hai sư cô lên Tịnh xá Ngọc Bình ở Tây Sơn. Theo quyển hồi ký của hòa thượng Giác Ngộ, tôi biết sư cụ Giác Linh là sư đệ của ngài, xuất gia sau hai tháng. Bây giờ ra Bình Định, tìm hiểu về sư Giác Kinh và tịnh xá của sư, những chuyện xảy ra cách đây 60 năm, thì phải gặp sư cụ Giác Linh.

 

 

 

Viện bảo tàng Quang Trung ở thị trấn Phú Phong

(Ảnh sưu tầm)

 

 

Xe chạy lên Tây Sơn, đến Viện bảo tàng Quang Trung rồi rẽ vào Tịnh xá Ngọc Bình. Trên xe hòa thượng Chiến đã kể sơ về chuyện sư cụ Giác Linh mới được khỏe lại. Cách đúng một tuần trước sư cụ trở bệnh nặng được đưa vào bệnh viện cấp cứu, bệnh viện đã trả về để lo hậu sự. Sư Giác Bổn ở Tịnh xá Ngọc Duyên cùng một sư nữa lên Ngọc Bình tụng kinh sám hối cho sư cụ Giác Linh được tiêu nghiệp. Hơn một ngày sau thì sư cụ tỉnh lại, nghe nói đã khỏe rồi.

 

 

 

Tịnh xá Ngọc Bình – Tây Sơn

(Cảnh chụp tình cờ có đám mây đen đang túa ra ngay giữa hình, không tốt.)

 

 

Đến nơi, mọi người xuống xe vào tịnh xá, tôi lấy máy từ ngoài cổng bắt đầu chụp hình vào. Khi tôi vào, hòa thượng Giác Chiến đang cầm tay sư cụ hỏi thăm. Sư cụ Giác Linh ngồi trên giường để bên ngoài phòng cho mát. Tịnh xá không có cây bóng mát, cả ngày mấy căn nhà mái ngói phơi dưới nắng. Sư cụ chào hỏi mọi người, mời ngồi uống nước, giọng khàn, to và cứng cỏi.

 

 

 

Sư cụ Giác Linh ở Tịnh xá Ngọc Bình – Tây Sơn,

đôi mắt nhìn xuống theo tác phong các vị khất sĩ lớp đầu. Hình chụp ngày 29/5/2017.

 

 

Sau khi bảo con lấy ghế mời quý sư, quý sư cô ngồi, sư cụ nhìn tôi hỏi:

 

– Sư nào đây?

 

– Dạ… con ở Đà Lạt,

 

– Ở đâu?

 

Hòa thượng Chiến lớn tiếng nói rõ cho sư cụ hiểu:

 

– Đệ tử ngài Ngộ.

 

– À, tui mừng quá. Ngài Ngộ khỏe không?

 

– Dạ ngài khỏe, ngài đang ở bên Mỹ.

 

– Hả? Bên Mỹ à?

 

– Dạ, mới đi một tuần nay.

 

– Chu cha, quý quá! Ngài Ngộ với tui… gần nhau có mấy tháng à… đồng học cùng thầy. Rồi do nhân duyên mà ngài Ngộ… vô Nam theo ngài Nhiên. Nếu tính tuổi đạo… thì đến nay đúng sáu chục năm, từ 1957. Nhưng nếu nói vấn đề… thì là tui khổ lắm.

 

Nói đến đó sư cụ bật cười cởi mở, tôi cũng cười góp một chút. Ông cụ một đời khổ vẫn nói là khổ, nói vừa xong lại bật cười lớn, cũng lạ. Nhưng 60 năm đi tu khổ nhiều vui ít là sao? Một đời tu sĩ như thế có ý nghĩa gì? Do sư cụ Linh hay nói ngắt quãng, nên tôi “dạ, dạ” đệm cho ông cụ nói. Bấy giờ tôi hỏi:

 

– Dạ, con thỉnh sư cụ kể chuyện sư Giác Kinh ngày xưa đi.

 

– Bây giờ là… nhờ trời, Phật gia hộ…

 

Sư cụ Giác Linh lại kể chuyện mình có ba tịnh xá, giờ còn hai, Ngọc Bình dời về chỗ này mới được ba năm, lúc trước Ngọc Bình ở ngoài kia, kế bên viện bảo tàng… Tôi đem hủ thuốc bổ não của Mỹ ra cúng dường cho sư cụ, đó là một phần món quà trai Tăng được dâng cúng ở nhà sư cô Thiền. Sư cụ Linh nhận thuốc, rồi nghẹn lời kể về chuyện mình vừa chết đi sống lại. Hòa thượng Giác Chiến ngồi bên nói:

 

– Cũng hoãn chớ đâu miễn được!

 

– Hả?

 

Sư cụ Linh nghe không rõ hỏi lại, khi nghe rồi cũng bật cười với mọi người. Sư cụ nói mình tai điếc, mắt nhìn không rõ, cũng không đi vô Nam thăm ngài Ngộ được. Sau đó sư cụ Giác Linh đã ôn lại chuyện cũ với hòa thượng Giác Chiến đang ngồi kề bên:

 

– Năm 1957 Thầy mình ra lập đoàn III, ngài Tịnh lập đoàn II, ngài Nhiên đoàn IV, ngài Lý đoàn V, còn lại là giáo hội. Trong đó đoàn II là mạnh nhất, gồm có Trưởng lão, sư Lương, sư Hải, sư gì ở Thủ Dầu Một, và một sư nữa, nói chung là ra đoàn mà được nhiều sư ủng hộ. Còn đoàn III chỉ có một mình Thầy, sau này có được sư Kinh. Mình với sư Ngộ xuất gia ở Tịnh xá Ngọc Như Nhơn, ở Ghềnh Ráng, mà vô Phan Thiết thọ giới, ngày rằm tháng giêng.

 

…Năm 1962 xin ra riêng, Thầy cho ra, mà nói: “Tui cho các ông đi, nhưng khi nào cúng dường thì các ông về giúp tui một, hai thời pháp.”. Tịnh xá này lập năm đó. Khi về đoàn thuyết pháp, hồi đó mình chỉ thuyết theo Chơn lý của Tôn sư, nói về con ngạ quỷ, đầu lớn, bụng to…

 

…Khi năm đoàn thành lập, có sự chia rẽ của năm đoàn. Mình là tỳ-kheo mà vô trong đó phải ngồi dưới mấy sa-di. Sau đó mới thương lượng, dầu gì mình cũng chung một Tổ sư, nên thôi, hòa hợp. Lúc đó có làm một cái biên bản, năm đoàn đều ký, mà chắc bữa nay biên bản không còn đâu.

 

Hòa thượng Chiến nói:

 

– Lâu quá rồi.

 

Tôi hỏi:

 

– Ký năm nào, sư cụ?

 

Sư cụ Linh đáp:

 

– Năm Tự tứ ở Cần Thơ, chắc 1958.

 

Sư cụ nhớ thời điểm bị sai rồi, bởi năm 1958 chưa có năm đoàn khất sĩ, năm đó phải là năm 1961. Sư cụ kể tiếp:

 

– Năm 1962 không có Tự tứ, không lên Tây Ninh được. Hồi đó các tịnh xá của mình đa phần là bằng tre, nứa. Đến khi khánh thành Tịnh xá Ngọc Uyển ở Bửu Long, cô Huỳnh cho lợp mái ngói, ngài Nhị Tổ nói: “Tui về đây là để chứng nhận lễ Tự tứ, chứ không chứng nhận tịnh xá mới này.”…

 

Phút 31, tôi lại hỏi về sư Giác Kinh. Sư cụ Linh nghe rõ câu hỏi rồi kể:

 

– Hồi đó sư Kinh là người tu bên chùa, sau đó sư thấy Khất Sĩ mình ra đời sư mới tu ở Ghềnh Ráng. Có tui, sư Ngộ… ở với sư. Chà, biết nói sao cho hết đây! Sau này sư Kinh vô Phan Thiết, trù xuống hang đá bỏ xác luôn ở đó. Sư giao tui ở lại coi tịnh xá.

 

– Tịnh xá tên gì?

 

– Tên Ngọc Như Nhơn.

 

– Ở Phù Cát cũng có một tịnh xá tên Ngọc Như Nhơn.

 

– Tịnh xá đó cũng do sư Kinh đặt tên.

 

– Cũng đặt tên đó luôn, vậy là có hai tịnh xá Ngọc Như Nhơn?

 

– Có hai tịnh xá Ngọc Như Nhơn.

 

Sư cụ Giác Linh khẳng định vậy rồi kể tiếp:

 

– Sau khi sư Kinh đi rồi, tịnh xá ở chỗ lầu Bảo Đại, giấy tờ không có, bên Phật giáo nói mình tu Khất sĩ, không ở một chỗ, không đúng là tu sĩ Phật giáo. Thầy Thích Tâm Hoàn hành đạo ở đó, báo công an Tuy Phước xuống bắt hết những người thiện tín, nhốt hết.

 

Hòa thượng Chiến hỏi:

 

– Bắt đông không?

 

Sư cụ Giác Linh đáp:

 

– Đông chớ.

 

Tôi hỏi sư cụ:

 

– Bao nhiêu người?

 

Sư cụ trả lời:

 

– Cũng mười mấy người. Cơm đang nấu, nó xách đi, không cho mình ăn. Còn quý sư nó bắt bỏ tù.

 

Tôi hỏi:

 

– Lúc đó sư cụ có bị bắt không?

 

Ông cụ đáp:

 

– Không, tui không bị bắt là do tui có thế của tui. Hồi đó tui có ông anh bà con đương làm Chủ tịch thị xã Quy Nhơn, nên nó không dám bắt. Sau đó, tui, đức Thầy, cũng có quý sư nữa, xin vô ở tù. Ở tù là gì? – Mấy ông này là người bổn đạo, ổng vì đạo mà hộ cho chúng tui. Nếu ổng phạm tội chính trị, tui không dám nói. Nếu phạm tội đạo đức, tui xin lãnh tội đó, mỗi sư một năm, hai năm gì đó, hết rồi tui ra.

 

Tôi hỏi:

 

– Năm đó là năm 58 hay 59? Tức là lúc đó sư Kinh đi được hơn một năm chưa?

 

Sư cụ Linh nói:

 

– Hơn một năm rồi.

 

Tôi gạn lại:

 

– Vậy là năm 59?

 

Ông cụ sôi nổi đính chính:

 

– Không, năm 58, hồi đó đang ở Phan Rang, tui với đức Thầy, sư Luận...

 

– Hồi đó mình đã cất nhà thờ Phật chưa?

 

– Có chớ.

 

– Nhà bát giác?

 

– Chưa bát giác, nhà tranh, tre mà.

 

– To không?

 

– To, chỗ tín ngưỡng đàng hoàng. Nhà bếp có, các cốc có.

 

– Như vậy đó là tịnh xá đầu tiên? Trước cả Ngọc Cát?

 

– Trước…

 

Sư cụ ngập ngừng, tôi nhắc lại cho rõ:

 

– Tịnh xá Ngọc Cát ở Phan Thiết.

 

Sư cụ xác nhận:

 

– Trước Tịnh xá Ngọc Cát ở Phan Thiết.

 

Tôi lặp lại:

 

– Vậy Ngọc Như Nhơn là tịnh xá đầu tiên của đoàn III?

 

Sư cụ đáp:

 

– Phân đoàn III có Tịnh xá Ngọc Pháp,

 

Tôi chen lời:

 

– Ngọc Pháp do sư Giác Hội lập.

 

Sư cụ nói:

 

– Đúng, nhưng mà hồi đó Giác Hội ra, giao lại.

 

Tôi lại gạn:

 

– Như vậy, Ngọc Pháp trước Ngọc Như Nhơn hay là sau?

 

Ông cụ chậm rãi trầm giọng đáp:

 

– Trước Ngọc Như Nhơn.

 

Tôi gợi trở lại chuyện đang nói:

 

– Rồi lúc xin đi ở tù nó có bắt không?

 

– Không bắt.

 

– Nó thả hết mấy thiện tín ra?

 

– Ừ, nó thả. Mà nó nói như thế này nè: “Mấy ông là là… tui biết là dân chài đó mà, đâu phải dân trí thức mà chính trị nọ, chính trị kia. Hàng ngày đánh được một chút cá về nuôi con, vợ thôi chớ biết làm gì.”. Nhưng mà cất cái tịnh xá đó, đồ bất tri mà, thế quyền ganh ghét mà họ làm vậy. Hồi đó ông Nguyễn Văn Ái làm Tỉnh trưởng tỉnh Bình Định. Ổng nói: “Thôi, bây giờ mấy ông về, nói với quý sư cho dỡ hết mấy cái đó đi. Tui thả cho mấy ông về.”

 

Tôi hỏi tiếp:

 

– Còn Tịnh xá Ngọc Như Nhơn ở Phù Cát?

 

Sư cụ Giác Linh kể tiếp:

 

– Hồi đó sư Kinh lên, rồi tui, sư Kinh, sư Thầy An, sư Cảnh năm đó làm. Sau đi đứng bất tiện nên bỏ, để cha con ông ấy làm gì thì làm chớ mình không biết.

 

– Cha con ông nào?

 

– Cha con ông Thiện… ông thiện gì ở đó.

 

Tôi quay qua chỉ sư cô Sen nói với sư cụ Giác Linh:

 

– Sư cô này bây giờ trụ trì Tịnh xá Ngọc Như Nhơn ở Phù Cát.

 

Sư cụ nhìn sư cô Sen và cất giọng khàn khàn hỏi:

 

– Vậy à? Con ở Phù Cát mà ở dưới này chớ?

 

Sư cô Sen lên tiếng giải thích cho tôi hiểu:

– Ý hòa thượng nói là Ngọc Như Nhơn trên núi, ở Cát Sơn, bây giờ chuyển xuống gần đường cái rồi.

 

Tôi liền nói to cho sư cụ Linh nghe:

 

– Xuống gần đường rày xe lửa.

 

Không ngờ sư cụ cũng biết rõ:

 

– Chuyển xuống đường rày xe lửa là do sư Đạt, tui, chuyển, nhưng không phải dở từ trên kia xuống.

 

Sư cô Sen nói:

 

– Vậy là chỉ chuyển tên, bỏ cái trên kia.

 

– Ừ.

 

Tôi hỏi sư cụ Giác Linh:

 

– Vậy là do Ngọc Như Nhơn ở Ghềnh Ráng đã bỏ, nên lập lại cái Ngọc Như Nhơn ở Phù Cát?

 

– Đó. Sau đó, tui về ở Phan Thiết, có sư Luận.

 

– Ở Tịnh xá Ngọc Cát?

 

– Tiếng là Tịnh xá Ngọc Cát chớ chưa cất thành tịnh xá, chỉ là một, hai cái nhà thôi.

 

Tôi nói:

 

– Một, hai cái cốc, người ta gọi là chùa Cốc.

 

Sư cụ Giác Linh đồng ý:

 

– Đó, đó.

 

Lúc đó sư cô Thiền đưa điện thoại bảo sư phụ muốn gặp, tôi nói lớn cho sư cụ Linh nghe:

 

– Hòa thượng Giác Ngộ muốn gặp sư cụ đây.

 

Sư cụ cầm điện thoại, có tiếng nói cất lên:

 

– Giác Ngộ đây.

 

Sư cụ đáp:

 

– A-di-đà Phật. Thưa ngài, trò rất nhớ ngài…

 

Rồi nghẹn ngào khóc. Một lát, theo lời hòa thượng Giác Chiến bảo, tôi cầm điện thoại nói:

 

– Bạch hòa thượng, sư cụ nói không nổi.

 

Hòa thượng Giác Ngộ nói:

 

– Được rồi. Cho sư gởi lời thăm…

 

– Mô Phật.

 

Rồi tôi đưa điện thoại qua cho sư cô Thiền, hòa thượng dặn sư cô cúng dường tiền cho sư cụ Linh, sau đó sư cô lại chuyển điện thoại cho hòa thượng Giác Chiến nói chuyện. Lúc này sư cụ thôi khóc, tiếp tục kể chuyện xưa cho tôi nghe. Rõ ràng là ông cụ còn minh mẫn, tỉnh táo. Sư cụ Giác Linh kể tiếp:

 

– Lúc đó phân đoàn II vừa ở trong Nam ra. Đất Ngọc Nhơn bây giờ là đất của bà Hai Ảnh.

 

Tôi nhắc:

 

– Bà huyện Tám.

 

Ông cụ cũng thừa nhận, và nói tiếp:

 

– Bả cũng nói: “Thôi, bây giờ sư phải làm cái chùa ở.” Nó không cho. Xin tỉnh trưởng không cho. Tui nói: “Nếu tỉnh trưởng ép buộc, xin thẳng Bộ Nội vụ luôn.”.

 

– Dạ, Bộ Nội vụ là phải vô tới Sài Gòn?

 

– Tới Sài Gòn, thì Bộ Nội vụ trả lời lại Bình Định: “Quyền sở hữu bất động sản của con người không được quyền… CAN THIỆP!”. Cho lập tịnh xá, nhưng không cho sư nào ở hết.

 

– Ồ, vậy cho lập làm chi!

 

Sư cụ Linh bật cười khà khà khoái chí, chắc tôi đã nói đúng cái gan của ông cụ. Ông cụ vẫn cứng cỏi quá, chuyện tranh đấu với đời từ 60 năm trước vẫn ôn lại chắc nịch, không sót một chút nào. Sư cụ kể tiếp:

 

– Chiều lại, thu hết kiểm tra, sáng nó đuổi đi, lấy lý do ở đây mất an ninh. Cũng may, tui vừa ở Phan Thiết đi ra. Bà Tám nói vậy nè sư: “Sư à, tui nhắm trong đoàn Khất Sĩ của mình không ai được hết, có một mình sư thôi. Tui hy vọng sư xuống làm sao lấy dùm kiểm tra lại. Điều luật của sư tui tin là đầy đủ.”. Nói về điều luật, thì phải làm sao cho giáo đoàn Khất Sĩ của mình mở ở tỉnh Bình Định cho đàng hoàng. Được. Bữa đó đi xuống, có tui là phân đoàn III, sư Quy là phân đoàn II. Nó nói: “Sao đi hai ông?”. Tui nói: “Giáo pháp này đi đâu phải đi hai người chớ không đi một người được. Tóm lại là quý sư của tui bị thu giấy tờ hết, bây giờ tui xuống yêu cầu xin trả giấy lại cho họ.”.

 

Lúc đó cô Tâm cầm máy lại gần nói chuyện với hòa thượng Giác Ngộ hơi ồn, sư cụ ngó qua, tôi bảo:

 

– Sư cụ cứ nói tiếp đi.

 

Sư cụ Giác Linh kể tiếp:

 

– Nó nói: “Tui đã bảo quý sư nhiều lần, nơi này mất an ninh, yêu cầu quý sư rời khỏi thành phố Quy Nhơn. Sao quý sư vẫn ở đây?”. Tui mới trả lời lại với thằng công an: “Thưa ông, chưa nói tui là tu sĩ, như dân buôn bán, sáng gánh một gánh hàng từ Phú Yên ra Bình Định bán, trưa về lại Phú Yên. Nhưng nếu bán không hết, tui vào thưa ông: “Bán không hết, gánh đi gánh lại khó quá, tui xin phép ông cho tui nghỉ lại một đêm.”, ông hỏi: “Có giấy tờ không?”, tui trình giấy tờ, được ở. Bà Nguyễn Thị Tám cất chùa, chúng tôi là khách Tăng, bà Tám cho chúng tôi tạm trú, giấy tờ chúng tôi đầy đủ, chính quyền đuổi chúng tôi đi đâu? Bây giờ, mấy ông yêu cầu quý sư Khất Sĩ đi khỏi tỉnh Bình Định trong vòng 48 tiếng. Tui ra Quảng Ngãi, người ta cũng nói 48 tiếng phải rời khỏi. Tui đi nữa, cũng bị yêu cầu phải rời khỏi, thì chắc tui đi riết qua khỏi vĩ tuyến 17 luôn!”.

 

Tôi bật cười vì lý luận của sư Linh ngày xưa. Để bảo vệ giáo đoàn của mình, lúc ấy sư Linh đã chẳng câu nệ hạnh khất sĩ gì nữa, ra sức tranh cãi với công an Bình Định. Sư cụ Linh cũng cười đắc ý, rồi hăng hái nói tiếp:

 

– Nói, phải có sự lý. Tui đưa cuốn sổ, bảo nó ghi rõ yêu cầu quý sư 48 tiếng rời khỏi Bình Định. “Nếu là Tỉnh trưởng tỉnh Bình Định yêu cầu ông làm, thì ông phải ghi là: “Thừa lệnh Tỉnh trưởng tỉnh Bình Định”. Nếu là quyền của ông, thì ông ghi là: “Quyền Trưởng ty Công an Bình Định”. Tui hứa chắc chắn sẽ rời khỏi. Không cần 48 tiếng đồng hồ, 24 tiếng quý sư cũng không còn ở Bình Định nữa!”.

 

Tôi cười, hỏi:

 

– Rồi ổng có ghi vô sổ không?

 

Sư cụ Linh gân cổ thốt giọng khàn đặc đáp liền:

 

– Dám à!

 

Chà, đi mở đạo ở miền Trung Việt khí thế cũng giống như đi chinh phục một miền đất mới. Thảo nào về già sư cụ Giác Tôn đã viết hồi ký với tên là Vang Bóng Một Thời! Sư cụ tiếp:

 

– Nó không nói gì hết. Tui ngồi tui cười, sổ thì để trên bàn. “Hồi nãy các ông à, tui vô lúc 7 giờ, bây giờ 9 giờ. 7 giờ với 9 giờ khác nhau. Nếu như, ông ghi vào sổ của tui, là quyền hạn của ông. Nhưng, ông không ghi, thì bây giờ là quyền của tui.”…

 

Cô Tâm vẫn vô ý quá, cứ đứng kế bên to giọng nói chuyện dài dòng với hòa thượng Giác Chiến, át mất giọng sư cụ thu trong máy. Đoạn thu âm này chắc sẽ khó nghe được mấy câu sư cụ Linh nói, nên tôi hỏi lại:

 

– Cháu rễ ông Diệm là cái gì của sư cụ?

 

– Là tín đồ…

 

Khi mở máy nghe lại đoạn thu âm này, quả thật chỉ toàn giọng cô Tâm. Đoạn trước, lúc cô bắt đầu cầm điện thoại nói chuyện với hòa thượng bên Mỹ, tôi phải nghe đi nghe lại mới ghi rõ được câu chuyện của sư cụ Giác Linh, đến đoạn này thì không cách nào nghe rõ được điều cần nghe. Mất bảy phút thu âm, phút 63 tôi hỏi sư cụ Linh:

 

– Vậy sau đó Ngọc Nhơn thì sao?

 

– Sau đó không dám nói gì Ngọc Nhơn nữa.

 

– Còn bà huyện Tám có nói gì nữa không?

 

– Bà huyện Tám cũng không nói gì.

 

– Dạ.

 

– Sư Dũng biết, “Nếu Tịnh xá Ngọc Nhơn hồi đó không có sư Linh thì không lập được.”.

 

Tôi hỏi:

 

– Hòa thượng Dũng đoàn II phải không, sư cụ?

 

– Phải. Cho nên nhiều cái lý sự bây giờ tui quên nhiều.

 

Tôi thuận miệng đáp “Dạ” mà lại nghĩ thầm: “Sư cụ nhớ mấy lý sự đó làm chi!”. Hòa thượng Giác Chiến ngồi bên góp vào một câu:

 

– Lý sự ghê lắm!

 

Rồi hòa thượng bảo cho tôi biết là sư cụ Linh đã từng lý luận với ông thầy mình suốt một ngày. Tôi chợt nhớ một điều chưa rõ nên hỏi:

 

– Thưa sư cụ có nhớ tám giảng sư đệ tử đức Thầy Giác Tịnh không?

 

Sư cụ không nhớ, chỉ nói là có biết tám vị đó, giỏi lắm. Mấy tháng sau nói chuyện với hòa thượng Giác Ngộ, ngài có nhắc đến sư Giác Ân. Tôi liền điện thoại cho hòa thượng Giác Mẫn, tuy không mặn mà gì với những người đã bỏ đi, nhưng hòa thượng Mẫn cũng đã xác định Giác Ân là một trong tám giảng sư đó, lâu nay quên mất. Vậy tám giảng sư bỏ đi mà giáo đoàn II không ai nhớ đủ tên là: Giác Nguyên, Giác Thạnh; Giác Huấn, Giác Rạng; Giác Ân, Giác Phước; Giác Kiều, Giác Phụng; khi đi giảng thường đi thành bốn cặp.

 

Cuối buổi hôm đó, tôi xin xem hai tờ giấy sư cụ Linh vừa nhắc đến. Cô Tâm và sư cô Mẫn vội mở bóp của sư cụ, lấy đưa ra cho tôi xem. Hai tờ giấy sậm màu, mỗi tờ đều được ép nhựa, gấp làm tám. Sư cô Mẫn lấy tay vịn cho tờ giấy khỏi co lại để tôi chụp hình. Hai đơn đó, một đơn do quản đốc Ngân Hàng Huyết của Bệnh viện Trung ương Huế cấp cho “ngài tu sĩ” Giác Linh ngày 11 tháng 2 năm 1958. Đơn này có ba đoạn nội dung: Đầu tiên xác nhận sư tình nguyện hiến máu ở bệnh viện, sau đó tán thán “nhà khổ hạnh”, rồi “tha thiết yêu cầu các nhà chức trách và quý vị đồng bào vui lòng giúp đỡ” sư. (Những chữ trong ngoặc kép là nguyên văn.) Xét ngày 11 tháng 2 năm 1958 nhằm ngày 23 tháng chạp năm Đinh Dậu, tức là còn ba tuần nữa mới đến rằm tháng giêng, ngày chú Giác Linh được thọ giới Sa-di. Vậy mới đi xuất gia hơn một tháng chú Giác Linh đã tham gia hiến máu cứu người, theo gương sư Giác Kinh và trưởng lão Giác An (sư Kinh là người hiến trước). Tinh thần xả thân hành đạo của thầy trò ngài Giác An thật đáng khâm phục. Xưa Khổng Tử bảo: “Sáng nghe đạo, chiều có thể chết!”, (Triêu văn đạo, tịch khả tử!). Các nhà đạo đức xem đạo là trọng, sống chết là nhẹ. Nói cách khác, các ngài sợ tâm chết chứ không lo thân chết. Thế nhân mấy ai có được tư duy và hành động đó, hầu hết họ đều mãi lo cho thân.

 

Nhưng xét điều kiện các sư mỗi ngày ăn một bữa, mà bữa ấy lại là một bát cơm ngàn nhà, có khi chỉ là một trái chuối, thì hiến máu có phải là việc thích hợp không? Sư Giác Kinh bị mù mắt vì hiến máu nhiều, thời gian ngắn sau đó sư đã hoàn tục, không phải là những kết quả tốt. Sự xả thân hành đạo là quên bỏ cái thân ham ăn ham ngủ để lo tu, có nghĩa xả thân để hành đạo, nếu chỉ xả thân không thì có khác gì tự sát, đường tu sẽ dở dang. Xưa ở Ấn Độ có nhà sư trẻ bị một cô gái bắt ép vào phòng, không thoát được sư đã treo cổ tự sát chứ không phạm dâm, hành động đó được nhà vua khen ngợi, và đại sư Liên Trì ở Trung Quốc thế kỷ XVI khi viết lại chuyện này cũng đồng ý. Người xưa quý đức hạnh hơn sinh mạng, nên tạo được nhân cách thanh cao. Buổi đầu ra Trung mở đạo Khất Sĩ, ngài Giác An cũng có hướng như vậy sao?

 

Đơn thứ hai do ông đổng lý văn phòng Bộ Nội vụ nước Việt Nam Cộng Hòa đáp lại đơn xin phép đi hành đạo của ông Nguyễn Xuân Anh, tức tu sĩ Giác Linh, ngụ tại Tịnh xá Ngọc Hiệp, xã Ninh Hiệp, tỉnh Khánh Hòa:

 

“Thưa ông,

 

Phúc đơn đề ngày 10-8-1962 của ông, xin tin ông rõ: luật lệ hiện hành không bắt buộc ông phải có giấy phép của Bộ Nội vụ để đi hành đạo (Phật giáo) tại các tỉnh.

 

Muốn tổ chức thuyết pháp tại một nơi nào, ông chỉ cần khai báo các nhà chức trách sở tại để xét cho phép về mặt an ninh và trật tự công cộng.

 

Trong trường hợp nhà chức trách địa phương muốn xem trước nội dung bài thuyết trình, ông cũng nên thỏa mãn.”

 

Đơn này không cấm và cũng không cho phép tu sĩ Giác Linh đi các tỉnh hành đạo gì cả. Nhưng nếu đến chỗ nào mà chính quyền khó khăn, kiểu lệ làng, thì đơn này cũng có thể dùng làm bùa hộ mạng, vì trong đó đã được Bộ Nội vụ hướng dẫn rõ rồi. Có lẽ vì vậy mà sư Giác Linh đã giữ kỹ tờ đơn này, dùng nó như một tờ giấy tùy thân.

 

Như vậy, gặp sư cụ Giác Linh ở Tịnh xá Ngọc Bình – Tây Sơn đã giúp tôi biết về ba tịnh xá đầu tiên của giáo đoàn III, về hoàn cảnh hành đạo của quý sư Khất Sĩ ở Bình Định thời đó, sự thái quá của mấy thầy trò ngài Giác An, và một số thông tin khác. Về ngôi tịnh xá ở Ghềnh Ráng của sư Giác Kinh, hai nhân chứng đã nói khác nhau: sư cụ Linh nói đó là Tịnh xá Ngọc Như Nhơn, có trước Ngọc Cát; hòa thượng Giác Ngộ lại nói đó là Tịnh xá Ngọc Như Ý, có sau Ngọc Cát. Với những thông tin trái chiều thì ngôi tịnh xá này càng huyền bí hơn vậy.

 

*****

 

Một năm rưỡi mới viết xong bài số 41 và đăng lên cho mọi người đọc, bởi vì cảm hứng ban đầu của tác giả đã bị nguội lạnh nhiều. Sau khi viết xong bài Nối truyền Thích-ca Chánh pháp vào tháng 7 năm 2017, tôi đã khám phá ra Thích-ca Tượng pháp, thật chẳng biết nói thế nào, chỉ có cảm giác lười biếng dâng trào… Nhưng dù sao thì Trung Giang Ký Sự sẽ vẫn được hoàn thành. Ngày xưa đức Phật Thích-ca xuất thế đã mở ra Trung đạo, đến khi đức Minh Đăng Quang xuất thế đã mở ra Trung giang. Lý của Trung giang cứ theo bộ Chơn Lý mà phăng, còn sự của Trung giang sẽ được tìm hiểu qua những chuyến hành hương khắp các miền tịnh xá của Đạo Phật Khất Sĩ, để gặp gỡ hết các nhân vật của dòng đạo này…

 



[1]Tháng 5 năm 1956, Đoàn Du Tăng Khất Sĩ Việt Nam hành đạo ra miền Trung lần thứ nhất. Lần thứ hai Đoàn ra miền Trung vào tháng 3 năm 1957, lần thứ ba vào tháng 5 năm 1958, và lần thứ tư vào tháng 4 năm 1961. Đặc biệt, lần ra năm 1961 lần lượt có năm đoàn Tăng và một đoàn Ni Khất Sĩ, trước sau có sáu Tăng đoàn hành đạo miền Trung, để lại nhiều ấn tượng trong lòng dân chúng.

 

----------------------------------------

 

 

Các bài liên quan