CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC THẦN DIỆU CHỮA DỨT MỌI TÂM BỆNH CỦA CHÚNG SANH!

Thư viện Chánh Pháp / Tác phẩm mới / TRUNG GIANG 40

Tâm Nguyên , Thứ Tư 17-05-2017

 

Trung Giang Ký Sự – kỳ 40

 

Hành Vân

 

 

Tháng 4 năm Bính Thân 2016, tôi dự định theo Đoàn Du Tăng Khất Sĩ ra miền Bắc Việt hành đạo. Qua 40 năm dừng bước chân du hóa, nay các nhà khất sĩ Minh Đăng Quang có đủ duyên thực hiện lại chương trình hoằng pháp vĩ mô mà đức Phật Thích-ca và đức Tổ sư đã làm chưa? Trước đó, hồi đầu mùa Phật đản, hòa thượng Viện chủ Tịnh xá Ngọc Thiền nhắn cô Hồng Diệu bảo tôi về tịnh xá bàn việc, nhân dịp cô dẫn đoàn ghé Ngọc Thiền rồi về Ngọc Đức. Khi tôi về gặp, hòa thượng cho biết luật sư Lê Thanh Sơn ở Hà Nội và nhóm của ông muốn thỉnh chư Tăng, Ni Phật giáo Khất Sĩ ra Bắc hành đạo. Họ có lên một vài chương trình, mong rằng hòa thượng và chư Tăng, Ni sẽ hoan hỷ đáp ứng...

 

Khi bàn về chương trình đi miền Bắc, hòa thượng muốn lập Đoàn Du Tăng Khất Sĩ như ngày xưa để đi. Hòa thượng cho biết đã thông báo với một số vị, và hòa thượng Giác Cầu, thượng tọa Giác Cảnh, thượng tọa Giác Năng, đại đức Giác Nghĩa đã đăng ký đi. Tôi cũng đăng ký đi, sau đó tôi mời thêm được các đại đức Giác Tín, Giác Khương, Minh Giai, và các sư Minh Ninh, Minh Thể cùng tham gia. Nhưng rồi cuối cùng chưa biết nhóm luật sư Sơn sẽ tổ chức như thế nào, nên chỉ có hòa thượng và tôi đi trước.

 

Từ năm 1992 hòa thượng Giác Ngộ đã có một nhân duyên với miền Bắc. Năm đó đi dự đại hội Phật giáo toàn quốc hòa thượng đã gặp hòa thượng Thanh Tứ. Trong khi trò chuyện, hòa thượng Thanh Tứ đã bảo hòa thượng Giác Ngộ ra Yên Tử lập thiền viện dạy thiền cho mọi người. Nghĩ mình mới nhận lại Tịnh xá Ngọc Thiền được 3 năm, chưa thể ra Yên Tử lúc này được, nên hòa thượng Giác Ngộ đã đề nghị để dịp khác. Cũng trong lần đó và mấy lần đại hội sau, hòa thượng Giác Ngộ đã tiếp xúc với một số Phật tử Hà Nội.

 

Tại chùa Quán Sứ – Hà Nội có cô Diệu Đại là một Phật tử thuần thành, đệ tử cụ Thanh Tứ. Suốt 15 năm cô công quả cho chùa Quán Sứ, phụ trông coi kinh sách của thư viện, cho đến khi tạ thế vào năm 2016, hưởng lộc trời 70 năm. Cuối năm 2008 cô Diệu Đại dẫn chú Hà Vĩnh Tân vào Tịnh xá Ngọc Thiền – Đà Lạt học thiền với hòa thượng Giác Ngộ. Sau mấy ngày tu tập hai vị đã cung thỉnh hòa thượng ra Hà Nội dạy thiền. Nhân duyên đã đến, hòa thượng khởi hành ra Bắc hoằng pháp… Như vậy đã 8 năm qua, bây giờ có thể tổ chức Tăng đoàn Khất Sĩ ra Bắc hành đạo được chưa?

 

Trước Trung Thu 2 ngày tôi lên Tịnh xá Ngọc Thiền. Chiều ngày 14 hai thầy trò bay ra miền Bắc Việt, vừa xuống phi trường Nội Bài đã được nhóm luật sư Sơn đón và đưa về một ngôi chùa ở Hà Nam. Đây là lần thứ hai tôi đi cùng hòa thượng ra Bắc, lần đầu vào tháng 6 âm lịch năm ngoái, để làm lễ an vị Phật cho chùa Ghềnh ở xã Đức Vĩnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, bên bờ sông La thơ mộng. Khoảng 7 giờ rưỡi 2 xe đến chùa làng Ninh Tảo, thầy trụ trì đang hướng dẫn Phật tử tụng kinh tối. Xung quanh chùa bóng tối trùm khắp làng quê, xa xa có một bóng đèn trắng tỏa sáng. Cảnh làng quê miền Bắc buổi tối là vậy, tiếng niệm Nam-mô A-di-đà Phật trong chánh điện chùa Ninh Tảo có đủ sức soi sáng được không?

 

Trước sức vô minh dày đặc của nhân loại thì cần phải có nhiều bậc Thánh nhân, hiền Tăng, thiện nhân cư sĩ góp sức đem Phật pháp chiếu sáng cõi đời. Nhân loại đã nhiều, nói đến chúng sanh lại là vô số lượng, cứ sanh sôi nảy nở thêm mãi. Do đó hoằng pháp lợi sanh là một việc làm hoài không hết, nói chung là có việc cho hàng con Phật làm mãi.

 

Đêm đầu phái đoàn ở chùa làng Ninh Tảo, sáng hôm sau ghé qua chùa Lãm ở gần đó, rồi ghé về chùa chỗ sư cô Thuần Phương ăn cơm trưa. Đến xế mọi người qua thăm chùa làng chỗ thầy Thiên Ân, tối nghỉ ở đó. Các chùa đều mới lập lại, còn đang trùng tu kiến thiết. Trong thời chiến tranh chống Pháp và Mỹ, các chùa này cùng rất nhiều ngôi chùa nữa đã bị tàn phá, nay lại vươn lên một sức sống mới.

 

Hôm sau rời chỗ thầy Thiên Ân, phái đoàn qua thăm chỗ sư Minh Giới, kế là chỗ sư Chánh Trí, rồi ghé về chùa chỗ sư cô người Huế dùng cơm, với nhiều món chay kiểu Huế. Sau đó mọi người đến chỗ thầy Định, nghe nói hôm sau thầy được bổ nhiệm trụ trì một ngôi chùa làng nữa. Khi thầy Định tiếp hòa thượng Giác Ngộ được một lát thì hòa thượng Thái Hòa ở Huế vừa ra đến. Nghe giới thiệu hòa thượng Giác Ngộ ở Đà Lạt, hòa thượng Thái Hòa chắp tay chào và bảo mấy lần ở chùa Linh Sơn có nghe nói mà chưa được gặp mặt. Thăm hỏi vài câu rồi hòa thượng Giác Ngộ xin kiếu, để mai sẽ đến dự lễ của thầy Định. Ra xe, các chú định về chùa Ninh Tảo gần đó nghỉ tiếp một tối, tôi bàn ra, vì nhận thấy ở chỗ nào cũng còn khó khăn, chư Tăng, Ni cố gắng tiếp đón phái đoàn chu đáo chỉ vì chú luật sư Sơn, thôi không nên làm phiền huynh đệ quá. Mà hòa thượng cũng muốn về Hà Nội nghỉ cho rộng rãi, và tiện cho Phật tử Hà Nội ghé thăm.

 

Qua 2 ngày đi 8 cảnh chùa ở Hà Nam, 8 cảnh già-lam ấy đều là chùa làng, tức là chùa của một làng ở quê, hiện tại không phải là chùa trong phố. Văn hóa làng xã ở miền Bắc đã duy trì, bảo bọc, nuôi dưỡng được những ngôi chùa ấy suốt cả ngàn năm. Cũng như chính văn hóa làng xã đã nuôi dưỡng được hồn dân tộc, khiến cho người Việt không bị đồng hóa, dù phải trải qua mấy phen bị ngoại xâm đô hộ. Nay với sự có mặt của các vị đại đức Tăng, Ni miền Nam, những ngôi chùa làng ấy như được tiếp thêm một sức sống mới. Điều đó tôi đã nhận thấy: thầy Định tạo dựng nhà và vườn theo phong cách Huế, sư Chánh Trí tôn tạo nhiều tượng đài và tổ chức tu tham thoại đầu theo hòa thượng Duy Lực, thầy Đạo Duyệt đem phong cách của Chùa Hoằng Pháp ra để tổ chức những đêm hoa đăng, thầy Thiên Ân làm thư pháp, trà đạo và mở quán chay theo cách của các thầy ở Thành phố Hồ Chí Minh v.v…

 

Tăng, Ni miền Nam ra Bắc chủ yếu là nhận các ngôi chùa làng thế này. Từ một ngôi chùa nát, có thể chỉ là một di tích, họ sắn tay xây đắp thành một ngôi chùa làng mới. Dân làng sẽ hiến thêm đất, tạo điều kiện để sư xây được chùa cho làng. Rồi họ bảo vệ sư, giúp sư có điều kiện nhập hộ khẩu và bổ nhiệm trụ trì ngôi chùa ấy... Hiện nay tỉnh Bắc Ninh có nhiều Tăng, Ni miền Nam ra hành đạo nhất, số lượng khoảng 200 vị, mỗi người trụ trì một cảnh chùa làng. Nhiều kế tiếp là các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Nam Định, Hà Nam... Tại Hà Nam đã có 42 chùa như vậy.

 

Trưa ngày 17, chú Hà chở mọi người đi thành phố Ninh Bình, ghé thăm đạo tràng của Tâm Hằng Plaza, một chỗ quen biết của chú Sơn. Tâm Hằng Plaza, một cao ốc 9 tầng ở khu trung tâm thành phố, là một siêu thị điện máy và chăn đệm lớn nhất Ninh Bình. Chủ nhân nơi đây là 2 vợ chồng chú Tâm và cô Hằng. Họ là 2 Phật tử thuần thành, gắn bó với Bái Đính, với các Phật sự trong địa phương. Được chú Sơn giới thiệu hòa thượng Giác Ngộ ghé thăm đạo tràng, họ rất hân hoan đón tiếp, nhưng chỉ có gia đình và hơn chục nhân viên, chứ không phải dịp cả đạo tràng họp mặt.

 

Gia đình nghỉ trên tầng 8, nên phái đoàn cũng được mời nghỉ trên ấy. Lên tầng 9 là một chánh điện trang nghiêm, và các đồ cúng đều là hàng Đài Loan. Buổi chiều hôm ấy chú Tâm mời hòa thượng và mọi người đi thăm Bái Đính. Đúng như dự định ban đầu, chuyến ra Bắc lần này để thăm viếng cho biết tình hình sinh hoạt Phật sự của một số nơi, nên hòa thượng rất hoan hỷ, đi đâu, làm gì… đều tùy các chú sắp xếp. Mọi người lên Bái Đính tôi cũng đi theo, nhưng chẳng thích một chút nào, (mà 2 lần trước cũng vậy). Rõ ràng nơi này là một khu du lịch dưới hình thức nhà Phật hơn là một đạo tràng Phật pháp. Một ngôi chùa rộng mấy chục mẫu mà nơi nào người ta cũng đến tham quan được, không có một khu vực riêng tư nào cho các nhà sư cả! Nếu thật là chùa chỗ các sư tu, thì 2 phần 3 diện tích phải là chỗ người ngoài không được đến, tôi nghĩ vậy. Bởi chẳng thích nên tôi lảng lảng đi riêng, nhưng đến lúc chụp hình kỷ niệm hòa thượng cũng cố kéo tôi lại chụp mấy cảnh.

 

 

 

“Chùa” Bái Đính – một niềm tự hào của Ninh Bình,

cùng với các thắng cảnh Tràng An, Tam Cốc, Bích Động, Rừng Cúc Phương…

(Toàn cảnh nhìn từ dưới lên. Ảnh sưu tầm.)

 

 

 

(Toàn cảnh nhìn từ trên xuống. Ảnh sưu tầm.)

 

 

 

(Điện Tam thế Phật, tòa nhà to nhất ở Bái Đính, rộng 60 x 40m. Ảnh sưu tầm.)

 

 

Buổi tối, cô Hằng mở máy chiếu lại lễ Vu-lan năm 2016 của đạo tràng Tâm Hằng cho hòa thượng và mọi người xem. Chứng minh cho lễ là mấy Tăng, Ni của tỉnh, đều trẻ cả. Người dự chắc cũng hơn 200, gồm nhân viên của Tâm Hằng và bạn bè thân quyến của họ. Dẫn chương trình là một sư cô… Vu-lan là pháp phổ độ nhân gian của Phật-đà. Pháp Vu-lan nhắm vào các mối quan hệ huyết thống của con người mà thiết lập, triển khai chữ Hiếu để dạy người. Vu-lan là pháp nhân thừa, khơi gợi ân nghĩa để xóa bỏ mọi oan trái trong mỗi mái nhà, chỉ dạy các bổn phận của cha – mẹ – con cái để xây đắp các mối quan hệ gia đình tốt đẹp, từ đó tạo ra một xã hội tốt đẹp. Nhưng triển khai đến tột mức như Kinh Phạm Võng dạy: “Tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta.”, thì có nghĩa chính ta cũng lần lượt làm cha làm mẹ của mọi người. Tức là người người đều nên cư xử tốt đẹp với nhau, hiếu thuận với nhau cả, không cần phải chung huyết thống trong đời này!

 

Ngoài lễ Vu-lan, tại đạo tràng này cũng hay tổ chức thuyết pháp, thỉnh các thầy trong Nam ra giảng, rồi làm lễ quy y Tam Bảo cho mọi người. Cô Hằng khoe cả ngàn người đã được quy y Tam Bảo tại đạo tràng này. Thật tốt đẹp thay khi người người biết quy y Tam Bảo, trở về với tánh đức Phật – tánh đức Pháp – tánh đức Tăng của chính mình, cũng như của vũ trụ! Tối hôm ấy gia chủ tranh thủ thưa hỏi hòa thượng nhiều chuyện, tôi lên sân thượng ngồi chơi, chú Sơn Nam cũng lên chơi, kể chuyện hồi chú ở Mỹ, còn chú Hà thì đi nghỉ sớm...

 

Sáng hôm sau tôi thỉnh hòa thượng xuống phố đi khất thực, ngài trầm ngâm một chút rồi bảo hay là hỏi cô Hằng xem? Nghe tôi nói, cô Hằng vội xin cụ (hòa thượng) đi ngay tại tầng 8 này, cho gia đình cô và các em nhân viên được cúng dường! Tôi hiểu, các vị Phật tử này ngại để hòa thượng và tôi đi khất thực dưới phố. Thế là tôi thỉnh hòa thượng đắp y, mang bát, rồi tôi chỉ cho mọi người chuẩn bị vị trí đứng và cách cúng dường. Chú Tâm, cô Hằng, các con và khoảng chục cô chú nhân viên nô nức đứng đợi bên cây đào giả. Khi hòa thượng và tôi chậm chậm đi tới, họ cúng dường, chụp hình, trông rất vui… Sau đó mọi người lên chánh điện, xin hòa thượng chỉ đủ bài Liên hoa Tọa thiền công mà ngài đã chỉ sơ tối hôm qua. Nhân viên của Tâm Hằng mang camera lên chuẩn bị quay lại toàn bộ, tôi ghi vài lời tác bạch cho chú Tâm một lát sẽ đọc lúc đầu tiên, còn cô Hằng và mấy người nữa thì lo dời chậu kiểng chuẩn bị chỗ cho hòa thượng biểu diễn.

 

Sau lời tác bạch của chú Tâm và gia đình, hòa thượng cùng tôi niệm Phật hứa nhận. Tiếp đó ngài đứng lên, cởi bớt y thượng, đến chỗ đã sắp sẵn xếp chân ngồi, nói vài lời giới thiệu rồi tập bài khí công. Tôi ngồi cách một khoảng tập theo. Chú Sơn Nam cũng lấy cái ai-pát ra quay… Xong bài Liên hoa Tọa thiền công dài khoảng 12 phút, hòa thượng đứng lên tập 2 bài Thái cực quyền 24 thức và 132 thức. Đến lúc đó tôi ra ngoài sân thượng ngồi chơi. Trông xa phía trước Tâm Hằng Plaza là núi Non Nước nổi tiếng, tên cổ là Dục Thúy Sơn, ở cửa ngõ phía Đông thành phố Ninh Bình. Thành phố này không lớn lắm, tôi đoán đường kính của nó hơn 10km…

 

Nước non non nước nên thơ

Ai về Dục Thúy để ngơ ngẩn lòng

Bên sườn núi, bên dòng sông

Cúc vàng còn đó, hương nồng còn đây!

 

Khi ở Ninh Bình về đến Hà Nội, hòa thượng bảo tài xế chở qua Sóc Sơn thăm cô Dần, pháp danh Tâm Đức. Cô Tâm Đức đang kiến tạo một cảnh chùa trên 30 mẫu đất sườn núi. Nơi ấy có tòa chánh điện bề thế an tọa 3 pho tượng Phật Thích-ca, Bồ-tát Văn-thù và Bồ-tát Phổ Hiền bằng gỗ có mùi thơm, to và đẹp, lại có một pho tượng Trúc Lâm đại sĩ[1] lộ thiên to khoảng hơn 5m, khuôn viên vẫn đang được tôn tạo thêm, trồng hoa kiểng, cây ăn trái, nhiều cây sấu… Hàng ngày nơi đây vẫn được duy trì thời khóa tu tập. Ngôi chùa của cô Tâm Đức chỉ là chưa có bảng hiệu, cũng như chưa có danh phận là một ngôi chùa. Không ngờ hàng thương gia cư sĩ lại làm được như thế ở ngay xứ Hà Nội!

 

*****

 

Trong những lúc thăm viếng Tăng, Ni và Phật tử các nơi, hòa thượng Giác Ngộ thường kể câu chuyện của ông Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Trung Tín và chuyện tìm cốt ông Tổng bí thư Hà Huy Tập cho mọi người nghe. Tôi hiểu ý của thầy, đấy là pháp phù hợp với tâm thức người miền Bắc lúc này. Trong bài Chơn lý Sanh và Tử, Tổ sư Minh Đăng Quang đã dùng cách vấn đáp để thuyết minh về điều mà hầu như người nào cũng bận tâm: sự Sống và sự Chết. Ngay đầu bài viết ngài đã hỏi thẳng vào trọng tâm:

 

– Vấn: Cái gì là chúng sanh?

– Đáp: Cái biết là chúng sanh.

– Vấn: Cái gì sống chết?

– Đáp: Cái biết sống chết.

 

Chính cái tâm linh trí giác mới là cái được xếp hạng thú, người, hay quỷ, thần, mẫu, tiên, trời, thánh, Bồ-tát, Phật. Sự sống chết mà nhà Phật chỉ dạy trong các kinh sách đều là sự sống chết của cái đó, chứ không phải của cái thân xác vật chất, mặc quần áo và xức nước hoa, đi lại đây đó, ỉa đái mỗi ngày. Thân là cái vỏ, tâm linh trí giác là cái cốt bên trong, đừng lầm điều căn bản này.

 

 

 

Ông Nguyễn Trung Tín tiếp đại tướng Võ Nguyên Giáp trong một lần đại tướng thăm Bình Định.

 

 

Ông Nguyễn Trung Tín (1924 – 2015) là người Bình Định, đồng hương với hòa thượng Giác Ngộ, và đồng chí với chú út của hòa thượng là ông Nguyễn Lạc, (nay ở Quy Nhơn có một con đường hân hạnh mang tên Nguyễn Lạc). Ông Nguyễn Trung Tín tham gia Cách mạng vào năm 1945, từ đó hoạt động tích cực ở miền đất võ Bình Định suốt hơn 30 năm. Nguyên ông làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Lâm Đồng từ năm 1982, đến năm 1989 ông về làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Bình Định khi tỉnh này vừa tái lập. Sau khi về hưu ông lên Đà Lạt sống, đến cuối đời ông về lại Quy Nhơn. Lúc gặp lại hòa thượng Giác Ngộ ở Đà Lạt, ông có kể cho hòa thượng nghe một chuyện mà một nhà Cộng sản lão thành như ông “không thể không tin”:

 

Khi ông Nguyễn Trung Tín làm Bí thư Tỉnh ủy Bình Định, trong một lần họp tỉnh ủy bỗng nhiên có một đồng chí cán bộ bị vong nhập. Người nhập đứng lên xưng tên, nói mình là một đồng đội đã hy sinh thời đánh Mỹ. Ông ta trách các đồng chí lập nghĩa trang liệt sĩ và đi tìm hài cốt đồng đội về an táng, thờ phượng, nhưng sao còn 8 anh em của ông thì không cho tìm kiếm mang về! Mọi người mới hỏi mấy hài cốt bây giờ ở đâu? Ông ta chỉ chỗ, bảo có một dãy 8 bộ hài cốt phía dưới, phía trên có một chùm hoa vàng. Sau khi mọi người hứa sẽ đến tìm mang về nghĩa trang liệt sĩ thì ông thăng.

 

Thế rồi mọi người đi tìm nhưng không thấy. Đến lần họp kế tiếp đồng chí cán bộ đó lại bị nhập, cũng là vong trước. Lần này người ấy trách các đồng chí của mình đã không chịu khó tìm theo đúng lời ông hướng dẫn. Do vậy ông đề nghị sẽ dẫn mọi người đi tìm. Trong văn phòng tỉnh ủy ai cũng ngạc nhiên, nhưng không đi thì không được, vì đi tìm hài cốt của anh em đồng đội mình mà, làm sao có thể từ chối! Mọi người mới đi theo ông đến nơi, ông chỉ chỗ bên dưới chùm hoa màu vàng bảo đào lên, quả nhiên có một bộ hài cốt. Ông ta bảo đó là hài cốt của mình. Rồi ông chỉ đào những chỗ kế bên, lần lượt đào được thêm 7 bộ xương người còn nguyên, mỗi bộ ông đều nói rõ họ tên của người đã hy sinh.

 

Nguyên 8 đồng chí này trong một lần hành quân thì bị địch phục kích, bắn chết hết. Dân làng cảm thương những người đã hy sinh nên rủ nhau ra chôn cất thành một dãy bên đường. Một thời gian sau lính Mỹ làm đường đã cho xe bang ủi nơi đó, đẩy hết 8 cái mả vào bên trong, nên không còn dấu tích nữa. Đến khi nhà nước tổ chức đi tìm hài cốt các liệt sĩ đã hy sinh vì nước, dân vùng đó có kể về 8 người bộ đội họ đã chôn cất, nhưng bây giờ mất dấu rồi…

 

Sau khi lấy được cốt rồi thì đồng chí đó thăng. Tỉnh ủy cho đem về nghĩa trang liệt sĩ an táng, có báo cáo việc này lên Trung ương. Kể xong, ông Nguyễn Trung Tín kết luận với hòa thượng Giác Ngộ: “Cho nên tôi thấy Phật giáo nói có luân hồi sinh tử là đúng. Con người chết rồi không phải là hết, mà linh hồn vẫn còn!”[2].

 

Hòa thượng Giác Ngộ lại kể về chuyện đi tìm hài cốt ông Hà Huy Tập ở Bà Điểm, Thành phố Hồ Chí Minh. Chuyện này do chú Chánh Tín kể lại, chú là cháu gọi cố Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương Hà Huy Tập bằng chú, cũng là một trong những người tổ chức đi tìm hài cốt của ông. Lần tôi ra Hà Nội năm 2011 dự lễ khánh thành chùa làng Quán Tình chỗ sư cô Liên Vi, chú Chánh Tín có tặng cho tôi một quyển Cuộc Tìm Kiếm Hài Cốt Cố Tổng Bí Thư Hà Huy Tập.

 

 

 

 

Bìa trước và sau của quyển sách

CUỘC TÌM KIẾM HÀI CỐT CỐ TỔNG BÍ THƯ HÀ HUY TẬP

 

 

Sách Cuộc Tìm Kiếm Hài Cốt Cố Tổng Bí Thư Hà Huy Tập được in đầu năm 2010, do Sở Thông tin và Truyền thông Hà Tĩnh ấn hành, khổ 13,5 x 20,5cm, dày 170 trang. Ban biên soạn sách gồm có chủ biên là ông Hà Huy Lợi, cùng các ông Giáo sư Viện sĩ Đào Vọng Đức (công tác tại Viện Vật lý và Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người), Đại tá Hà Văn Sỹ, Phó giáo sư Tiến sĩ Hà Vĩnh Tân, và Hà Huy Thanh (con trai ông Lợi). Sau khi xuất bản hơn nửa năm, sách này đã được đăng lên trang www.chungta.comNội dung sách gồm có 9 phần, mà ở mục lục chỉ ghi có 6 mục, thiếu 3 mục (gạch chân):

 

– Lời giới thiệu, của GS.VS. Đào Vọng Đức

– Lời nói đầu, của Hà Huy Thanh

Không có tiêu đề, gồm 47 trang trình bày diễn tiến ban đầu cuộc đi tìm cốt đến lúc ông thủy tổ xuất hiện

– Tướng quân triều Trần – Hà Mại (thủy tổ họ Hà ở Hà Tĩnh), của ĐT. Hà Văn Sỹ

Lời chỉ dạy của ông Hoàng Mười và cố Mại, của Hà Huy Lợi

Báo cáo tổng kết hành trình tìm mộ cụ Hà Huy Tập, của ĐT. Hà Văn Sỹ trình bày trước hội nghị

– Nhìn từ góc độ khoa học về cuộc hành trình tìm kiếm hài cốt cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập, của PGS.TS. Hà Vĩnh Tân

– Đánh giá kết luận

– Phụ lục: Câu chuyện về bức ảnh “Bà tổ họ Hà hiển linh”

 

Người viết sách đã tường thuật quá trình tìm kiếm dựa theo những băng ghi âm và quay phim, kể chi tiết những đối thoại của người âm và người dương. Dụng ý người viết muốn cho người đọc biết rõ mọi việc, vốn rất lạ lùng đối với cách làm và cách nghĩ của con người trong cuộc sống ở dương gian này, qua đó chứng minh những hài cốt tìm được là đúng. Với phong cách đó, sách có vẻ chi li, vụn vặt, đọc thấy chán. Bởi vì nói cho cùng thì nội dung chỉ là mấy mảnh xương tàn, chẳng đáng để làm nghiêm trọng. Ngẫm người chiến sĩ khi chết thì hiên ngang, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Thế rồi sau đó lại không bỏ được nắm xương tàn, không đi đâu được cả, cho đến mức khi người khai quật sắp đụng mấy cái xương đó lại thấy đau, thật khổ thay! Đây là cảnh giới của người âm, mấy trăm năm thọ nhận dòng họ, tổ tông, quyến luyến không dứt. Lại có cả cảnh giới quỷ, như cha con Hồ Quý Ly và 8 thị vệ. Cũng có cảnh giới của thần, được gọi là Thánh Hoàng Mười, có miếu thờ bên bờ sông La, Hà Tĩnh…

 

Như dân Ấn Độ chết rồi đem thiêu và quăng xác xuống sông Hằng thì sao? Hoặc như họ chết rồi đem xác bỏ vào rừng, gọi là rừng xác (thi lâm) mà trong kinh Phật có nhắc đến thì sao? Dĩ nhiên là có còn miếng xương nào để quanh quẩn thương tiếc, để thấy đau, thấy khổ! Do văn hóa tục lệ ở xứ Việt khiến cho người chết bị kẹt trong mồ mả, quanh quẩn làm ma. Lời người xưa bảo “Tử quy, sanh ký.”, nghĩa là “Sống gởi, thác về.”, thì về là về đâu? Nhiều người sẽ đáp là chết về với tổ tiên. Quan điểm này nhà Phật dĩ nhiên không đồng ý. Mà chỗ về của nhà Phật là tâm ác đi theo nẻo ác, tâm thiện đi theo nẻo thiện, rốt ráo thì như củi hết lửa tắt, là trở về với Chơn không. Đức Tổ sư Minh Đăng Quang đã khẳng định: Định là nơi sanh ra và trở về của tất cả các pháp. Con người không nằm ngoài “tất cả các pháp” đó vậy, và Định là Chơn tâm, mới thật là ta, muôn người như một!

 

Trong quyển Cuộc Tìm Kiếm Hài Cốt Cố Tổng Bí Thư Hà Huy Tập đã kể rõ ràng thế này:

 

Ông Hà Huy Tập sinh năm 1906, hy sinh ngày 28/8/1941. Đến đêm 22/11/2009, tại xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh, con cháu họ Hà đã tìm thấy hài cốt ông. Đây là một sự kiện đặc biệt chưa từng có đối với dòng họ Hà suốt 600 năm qua, cũng là một sự kiện nổi bật của tỉnh Hà Tĩnh, của Tp. Hồ Chí Minh và cả nước Việt Nam trong năm 2009.

 

 

 

Hà Huy Tập, 1906 – 1941, Tổng Bí thư thứ III Đảng Cộng Sản Đông Dương,

sau là Đảng Cộng Sản Việt Nam.

 

 

Từ năm 2002 dòng họ Hà đã bắt đầu đi tìm hài cốt ông Hà Huy Tập, nhưng chưa tìm đến miền Nam. Đến giữa năm 2008, con cháu dòng họ Hà gặp được giáo sư Đào Vọng Đức, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Tiềm năng Con người ở Hà Nội, được giới thiệu các nhà ngoại cảm. Sau đó những người đi tìm mộ bắt đầu làm việc với 4 nhà ngoại cảm Phan Thị Bích Hằng, Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Hữu Thuận và Hoàng Thị Thiêm. Tháng 9, tại Trung tâm, được sự giúp đỡ của cô Trần Ngọc Ánh, họ đã tiếp cận với một số vong, biết được mộ phần của ông Hà Huy Tập ở đâu. Cũng trong lần đó ông Thánh Hoàng Mười đã nhập cốt hứa giúp đỡ họ Hà tìm được cốt ông Hà Huy Tập. Do vậy dòng họ Hà ở Hà Tĩnh và ở toàn quốc đã quyết tâm tìm cốt ông Hà Huy Tập mang về quê hương.

 

Tháng 11, những người đi tìm mộ và các nhà ngoại cảm lên K.9 tại Ba Vì, Hà Nội, nơi an táng hài cốt Bác Hồ (trong lăng Ba Đình là xác ướp giả), để dâng hương tưởng niệm và xin phép Bác đi tìm mộ ông Hà Huy Tập. (Năm 1941 ông Hồ Chí Minh mới về nước. Hai người chưa từng gặp mặt nhau khi còn sống.)

 

Tháng 12, qua cô Trần Ngọc Ánh, họ tiếp xúc được với ông Hà Huy Tập, nhưng ông không chịu về, ông bảo ở đó có nhiều đồng chí của ông, vui hơn về quê! Nhất là ông mặc cảm vì trước khi mất đã từng gởi một bức thơ cho em rễ, cũng là đồng chí của ông, nói mọi người hãy xem như ông đi vắng một thời gian vô hạn.

 

(Tra cứu trên mạng, ta biết được bức thơ cuối cùng ông Hà Huy Tập gởi cho gia đình có nội dung như sau:

 

“Sài Gòn 2/5/41.

Em rể thân yêu.

Ngày 25/9/1940, tôi bị Tòa đại hình Sài Gòn xử 5 năm tù. Ngày 25/3/1941 tôi bị Tòa án binh Sài Gòn tuyên án tử hình về tội “hoạt động Cộng sản” và “xúi giục phá hoại Quốc phòng”... Cương nhận được thơ này thì nhớ viết thơ khuyên mẹ chớ khóc lóc buồn rầu. Nếu tôi phải chết thì ở nhà không nên thờ cúng, điếu phúng, không cần tìm người lập tự, gia đình bạn hữu chớ xem tôi là người đã chết mà phải buồn, trái lại xem tôi như là người còn sống, nhưng đi vắng một thời gian vô hạn... mà thôi!... Nếu tôi được khổ sai chung thân thì thường có thơ về thăm gia đình. Nếu chẳng may mà phải chết thì bức thơ này là thơ vĩnh biệt. Tôi chúc cho mỗi người trong gia đình và tất cả bạn hữu gần xa được hạnh phúc và khương minh.”)

 

Đến cuối tháng 12/2008 phái đoàn đi Tp. Hồ Chí Minh. Đầu tiên họ đến quận Phú Nhuận thăm bà Hà Thúy Hồng, sinh năm 1929, con gái ông Hà Huy Tập. Tại đó họ tiếp xúc được với các vị tổ họ Hà như tiến sĩ Hà Công Trình, tiến sĩ Hà Tông Mục, hương cống Hà Huy Sào, cử nhân Hà Huy Phẩm, cử nhân Hà Huy Nhiếp và nhiều vị nữa. Họ nhờ các vị tổ họ Hà động viên ông Hà Huy Tập cho con cháu tìm và rước về quê. Lần này ông Hà Huy Tập đồng ý, nhưng còn hẹn họp chi bộ đảng một lần nữa rồi sẽ trả lời chắc chắn! (Ở cõi âm các vị ấy vẫn giữ nếp họp chi bộ đảng…)

 

Mọi việc tưởng sẽ nhanh chóng thành công, nhưng ông Thánh Hoàng Mười và cụ thủy tổ Hà Mại bảo cần phải có thêm thời gian. Qua cô Ngọc Ánh, họ điều khiển và sắp xếp mọi việc, kéo dài đến tận tháng 11 năm 2009 mới tiến hành khai quật, xong còn để gần 10 ngày mới đưa về quê. Tất cả chỉ vì để cho được sự chấp thuận của mọi người, không nghi ngờ, không phân tích ADN gì nữa, lại đúng ngày cả nước tưởng niệm 69 năm cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ; nhất là để được tổ chức quốc lễ tưởng niệm và an táng hài cốt ông Hà Huy Tập.

 

Vào lúc 3 giờ 5 phút (giờ Dần) ngày 22 tháng 11 năm 2009, nhà ngoại cảm Ngọc Ánh hướng dẫn mọi người tiến hành khai quật khu vực đã định vị tại Bến Tắm Ngựa, phía sau một nhà dân. Mọi việc đều làm theo chỉ dạy của cụ thủy tổ Hà Mại lúc ấy thỉnh thoảng lại nhập vào cô Ánh. Đầu tiên dùng xe múc đào một hố rộng khoảng 100m2, sâu một mét, lấy hết đất mới do dân đổ lấp lên. Sau đó đến lớp đất cũ thì định vị chính xác chỗ có cốt rồi đào cẩn thận hơn. Lần lượt đã lấy được hài cốt của các ông Phan Đăng Lưu, Nguyễn Văn Cừ, và một số đồng chí khác, đúng như tâm nguyện của ông Hà Huy Tập là lấy cốt của các đồng chí trước. Đến 1 giờ sáng ngày 23 việc khai quật thành công, lấy được xương sọ, ít xương sườn, xương ống và răng, với khúc tre nối đầu ông Hà Huy Tập vào thân, lấy thêm một ít đất ở nơi đó. Bấy giờ ông Tập nhập vào Đại tá Sỹ khóc ầm lên bảo: “Ới các con ơi, ông đã lên đây rồi!”… Và mọi người còn lấy thêm cốt ông Phạm Hồng Thái nằm phía dưới cốt ông Hà Huy Tập.

 

Ngày 24 tháng 11, theo sự chỉ đạo của Thành ủy, xã Xuân Thới Thượng và huyện Hóc Môn đã long trọng tổ chức lễ truy điệu cố Tổng bí thư Hà Huy Tập và các đồng chí của ông, những nhà Cách mạng đã hy sinh vì cuộc Khởi nghĩa Nam kỳ 69 năm trước. Sau đó các hài cốt được mang đến Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh. Lúc này cụ thủy tổ Hà Mại bảo chú Hà Văn Thạch (cán bộ Tỉnh ủy Hà Tĩnh) phải nhắc Thành ủy Tp. Hồ Chí Minh báo cáo việc này lên Trung ương.

 

Chiều ngày 25, có quyết định tổ chức tang lễ cố Tổng bí thư Hà Huy Tập theo cấp quốc gia của Bộ Chính trị nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

 

Ngày 26, dòng họ Hà cùng cô Ngọc Ánh và lãnh đạo tỉnh Hà Tĩnh làm giấy bàn giao hài cốt cố Tổng bí thư Hà Huy Tập cho Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.

 

Ngày 30, hài cốt cố Tổng bí thư Hà Huy Tập được rước về Dinh Thống Nhất.

 

Ngày 1 tháng 12 năm 2009, tại Dinh Thống Nhất, các cấp chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh đã long trọng tổ chức lễ truy điệu cố Tổng bí thư Hà Huy Tập. Ông Trương Tấn Sang, ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư, đọc tiểu sử cố Tổng bí thư Hà Huy Tập. Anh Hà Huy Thanh, chủ nhiệm chương trình khai quật giai đoạn cuối, đại diện gia tộc họ Hà nói lên lời cảm ơn với tất cả…

 

2 giờ chiều hôm đó hài cốt cố Tổng bí thư Hà Huy Tập được đưa ra sân bay Tân Sơn Nhất. 5 giờ máy bay hạ cánh xuống sân bay Vinh. Hôm sau tỉnh Hà Tĩnh tổ chức tang lễ cố Tổng bí thư Hà Huy Tập, hạ huyệt lúc 2 giờ chiều. Đến đây cuộc tìm kiếm hài cốt cố Tổng bí thư Hà Huy Tập đã thành công tốt đẹp, sau một năm rưỡi làm việc của nhiều người!

 

 

 

Khu tưởng niệm cố Tổng bí thư Hà Huy Tập tại Hà Tĩnh

 

 

Qua 68 năm bị vùi ở Bến Tắm Ngựa – Hóc Môn, cuối năm 2009 hài cốt ông Hà Huy Tập đã được khai quật và đưa về Hà Tĩnh an táng trân trọng trong một khu tưởng niệm riêng. Đây là một sự kiện hy hữu đối với nhà nước Việt Nam. Báo điện tử Sài Gòn Giải Phóng Online ngày 01/12/2009 có đăng bài Hành trình tìm mộ cố Tổng Bí thư Hà Huy Tập của 2 tác giả M. Hương và T. Thảo. Bài viết đã tường trình 8 năm đi tìm hài cốt ông Tập của gia tộc họ Hà, nhưng không hề nhắc đến các nhà ngoại cảm, nhắc đến cô Trần Ngọc Ánh và sự giúp đỡ mang tính quyết định của người âm. Đây là tấm hình được đăng trong bài viết đó, hình rõ hơn trong sách của ông Hà Huy Lợi:

 

 

 

Con cháu dòng họ Hà đang tìm kiếm hài cốt đồng chí Hà Huy Tập

tại xã Xuân Thới Thượng, huyện Hóc Môn, Tp. Hồ Chí Minh.

 

 

Hiện nay, các làng quê miền Bắc đều cố gắng dựng lại ngôi chùa làng, còn các cư sĩ đại gia cũng đua nhau mở đạo tràng riêng cho mình và gia đình. Thời buổi cho thấy đã đến lúc các Tăng, Ni trẻ được đào tạo nên xông pha kiến công lập nghiệp. Thầy Đạo Duyệt, thầy Thiên Ân, thầy Định, sư Minh Giới, sư Chánh Trí, sư cô Thuần Phương, sư cô ở chùa Lãm… là trong số mấy trăm vị đã tiên phong ra miền Bắc Việt mở đạo tràng. Nhưng cơ hội hãy còn nhiều lắm…

 

Về việc ra miền Bắc Việt, tôi không ngại mà cũng không ham, không rụt rè mà cũng không hăm hở, không từ chối mà cũng không mong muốn. Nếu có thể làm được gì thì tôi sẽ cố gắng. Đại khái cũng chừng đó việc: tu hành, xây chùa, tiếp Phật tử, đào tạo Tăng, tổ chức Tăng đoàn, biên soạn kinh sách, thuyết giảng, chứng nghiệm giáo pháp v.v… Ra Bắc, tôi không có cảm tưởng mình là phái Khất Sĩ, tôi không có bổn phận phải đi rao giảng một chủ thuyết nào, và tôi cũng không cần phải đấu tranh gì với ai cả; mà dĩ nhiên về Nam, sang Đông, qua Tây cũng vậy. Đã là một nhà sư thì sẽ làm những việc này kia khi sống trong đời, cũng như khi ứng thế thì Đạo phân thành 3 ngôi là Phật, Pháp và Tăng, vốn dĩ như thế chứ không ai áp đặt cả.

 

*****

 

Trưa ngày 19, hòa thượng với tôi cùng chú Chánh Pháp (chú Minh), cô Tâm Phúc (cô Hằng) đi Hà Tĩnh, xe do Lợi là tài xế của chú Thiện Thuận lái. Trên đoạn đường dài hơn 300km mọi người đã trao đổi nhiều chuyện. Chú Chánh Pháp hiện nay thường đi các nơi tổ chức cúng kiếng cho mọi người, do vậy tôi có nói với chú về sự thờ cúng ở các tịnh xá. Thời Tổ sư Minh Đăng Quang lập đạo, theo đúng tinh thần của đạo thì trong các tịnh xá không có thờ cúng gì cả. Đây là một sự thật lịch sử và hoàn toàn đúng đạo lý, đúng tác phong của nhà Phật. Về sau các tịnh xá của Đạo Khất Sĩ có thờ đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật trong bảo tháp ở chánh điện, rồi thờ hình hoặc tượng đức Tổ sư Minh Đăng Quang, thờ thêm Bồ-tát Địa Tạng ở nhà linh, thờ Bồ-tát Quán Thế Âm lộ thiên trong khuôn viên tịnh xá nữa...

 

Nói tới đó, tôi thỉnh ý hòa thượng đang ngồi ở phía trước luôn:

 

– Bạch hòa thượng, không biết Hệ phái Khất Sĩ bắt đầu thờ đức Bổn sư từ khi nào?

 

Vấn đề này lâu nay tôi không nghĩ đến, sẵn dịp nói tới thì hỏi hòa thượng luôn, nhưng may sao hòa thượng Giác Ngộ đã biết rõ chuyện này. Hòa thượng đáp:

 

– Sư nhớ là năm 1959, trong một lần Pháp sư dẫn đoàn về Tịnh xá Ngọc Chánh ở Gia Định, gặp đoàn của đức Thượng tọa Giác Chánh đang ở đó. Khi chư Tăng và Phật tử lên chánh điện làm lễ, nhìn vào tháp trống không giữa chánh điện thấy cũng thiếu thiếu. Nên lúc đó ông Phật tử Thiện Phước đã thưa với ngài Giác Chánh và chư Tăng là cho phép ông thỉnh tượng đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật về thờ trong tháp. Đức Thượng tọa và quý sư đã đồng ý, từ đó các tịnh xá của chúng ta bắt đầu thờ tượng Phật.

 

Tôi hỏi cho rõ thêm:

 

– Bạch hòa thượng, lần đó có phải là mùa an cư không?

 

Hòa thượng đáp:

 

– Không phải, sư nhớ là trước mùa an cư.

 

Tôi nghiệm lại: Vào thời Tổ sư Minh Đăng Quang hành đạo chắc chỉ có một pho tượng Phật được sử dụng. Đó chính là pho tượng Phật Thích-ca nhỏ Tổ sư hay bỏ trong bát mang theo, khi ngài ngồi trên đất thuyết pháp thì đem tượng Phật đặt trên bát để trước mặt, mặt tượng quay ra. (Xem lại bài 35)

 

Đến khi về tịnh xá, mở tư liệu ảnh trong máy kiểm tra lại, tôi tìm được 2 ảnh pháp tháp thời Tổ sư Minh Đăng Quang hoằng pháp. Đưa vào bài viết, 2 hình này được dán ở 2 dòng và hiển thị to để người đọc dễ nhìn rõ các chi tiết của tòa tháp:

 

 

 

Tổ sư Minh Đăng Quang đang thuyết pháp tại tịnh xá.

 

 

 

Lễ hội Vu-lan-bồn rằm tháng 7 năm 1953 tại TX. Ngọc Viên.

 

 

Xem kỹ 2 tấm ảnh trên có thể thấy được tòa tháp giữa tịnh xá của Đạo Khất Sĩ được thiết kế như thế nào trong giai đoạn đầu, tức là theo ý của người sáng lập. Ngài đã gọi “nhà tịnh xá” chứ không gọi “chánh điện” như ngày nay nhiều người gọi. Trong nhà tịnh xá có tháp thờ pháp của chư Phật quá khứ, gọi là Pháp tháp. Tòa Pháp tháp này được xác định là phần chính trong nhà tịnh xá. Hình sau chụp cảnh sinh hoạt ở Tịnh xá Ngọc Viên, ngày Lễ hội Vu-lan-bồn rằm tháng 7 năm 1953. Tịnh xá Ngọc Viên là trụ sở ban đầu của Đạo Khất Sĩ, nên trong nhà tịnh xá bấy giờ có vẻ tươm tất. Theo hình ta thấy mái tứ giác trên đỉnh lợp tôn, 4 mặt cổ lầu cũng dừng tôn, còn mái bát giác thì lợp lá dừa. Vì hình sau được xác định là ở Ngọc Viên nên hình đầu phải là ở chỗ khác. Do góc chụp vừa khít tháp nên không thấy thêm cảnh xung quanh trong hình đầu, nhưng vẫn thấy được chi tiết khác biệt ở 2 cái tháp: phần vách tháp trong hình đầu có 10 song gỗ, còn trong hình sau có 5 tấm gỗ mỗi bên cửa tháp; phần đèn trên nóc của 2 tháp cũng khác nhau.

 

Xem hình đầu, thấy tháp trống 4 mặt, phía trên vòm cửa có gắn một hình Phật Thích-ca, vị giáo chủ đương nhiệm ở cõi Ta-bà này. 13 tầng nóc tháp có gắn đèn nhưng chưa thắp sáng. Đặc biệt nhất là có ngài Minh Đăng Quang đang ngồi ngay chỗ cửa tháp để thuyết pháp, trước mặt có cặp bình hoa nở, cặp đèn đang cháy và có một bát nhang đang tỏa hương. Thế đúng là thờ lạy Pháp chứ không thờ lạy cốt tượng rồi van vái xin xỏ một cách mê tín hạ đẳng! Pháp ấy ở đâu? Nó ở chỗ đang được thuyết giảng! Thật chưa từng có dòng đạo Phật nào làm như thế ở Việt Nam và ở các nước hiện nay.

 

Xem hình sau, thấy tháp trống 4 mặt, phía trên vòm cửa có gắn một hình Phật Thích-ca. 13 tầng nóc tháp có gắn đèn điện đang tỏa sáng. Lưu ý: 13 x 4 là 52 ngọn đèn, còn trong bài số 4, chú Huệ Minh ở sau Tịnh xá Mộc Chơn – Phú Mỹ bảo có 49 ngọn, vì tầng 13 chỉ có 1 ngọn đèn. Trong lòng tháp có 2 tấm bồ đoàn hình tròn như gương sen chồng lên nhau, dĩ nhiên là để sẵn cho pháp sư thăng tòa thuyết pháp. Hình này chụp từ phía bên hông tịnh xá. Vì có một chú thiện nam mặc áo nâu khoanh tay đứng hầu các nhà sư, mặt hướng về chỗ các nhà sư đang ngồi ở phía trước. Xác định được đây là một mặt hông, không phải mặt chính như hình đầu, sẽ có thể kết luận: 4 mặt tháp đều có hình Phật. Điều này cũng đúng như khi lập Tịnh xá Ngọc Vân, sư bà Trí Liên đã cho an trí 4 tượng Phật nhỏ ở 4 mặt Pháp tháp.

 

Tìm hiểu tường tận về vấn đề này, trong bộ Chơn Lý có 3 bài có thể trích dẫn để làm sáng tỏ. Đó là bài số 11 – Luật Khất Sĩ, bài số 26 – Chánh Kiến và bài số 56 – Thờ Phượng. Đầu tiên, bài Chơn lý Luật Khất Sĩ quy định:

 

“Tại chỗ trụ: Trong đó có nhà tịnh xá, xây tháp thờ pháp của chư Phật quá khứ. Tháp phải mười ba tầng (vì đức Như Lai là ngôi vị thứ 13 của chúng sanh tiến lên từ nấc), tháp phải mở trống bốn cửa. Nơi đó chỉ để kinh sách hoặc cốt tượng Phật. Tháp bề cao 3m, nhưng rộng vuông 1m80.”

 

Đã là luật nên tính cách của nó phải là “quy định”. Thế nhưng, nội dung và cách trình bày của nó lại có tính phác họa. Tức là cũng quy định đó, nhưng không khắt khe. Trong vai trò là vị Pháp chủ của một dòng đạo, đức Minh Đăng Quang đã ban hành luật như thế, có quy định ra, nhưng cũng có mở: “hoặc để cốt tượng Phật”, lại không nêu rõ từng điều số mấy, cứ tiện đâu trình bày đó trong mạch văn. Ngược lại, trong vai trò của kẻ học đạo rồi thừa kế thầy duy trì và mở mang mối đạo, chúng ta phải y giáo phụng hành, chứ không nên chế linh tinh (là bà con của Chế Linh). Vậy an trí tượng Phật Thích-ca vào trong Pháp tháp cũng được, không sai, và không phải là điểm chính.

 

Tiếp theo, đọc trong bài Chơn lý Thờ Phượng, thấy tác giả Minh Đăng Quang đã viết:

 

“Khi xưa tại Ấn Độ, thuở Phật sanh tiền, Phật và Tăng là bậc giải thoát tu chơn, nên không có thờ phượng. Các ngài không có bày ra sự thờ phượng bên ngoài, cùng các nghi lễ cúng kiếng phức tạp, các ngài chỉ quý trọng tư tưởng giáo lý.

 

...Chúng ta nên hiểu rằng, thờ phượng là một phương pháp tạm trong lúc đầu cho kẻ ác quấy tội lỗi yếu tâm non dạ. Sự thờ phượng tạm ấy là để an ủi khuyến khích kềm giữ đức tin, nhắc nhở cho kẻ mới sơ cơ, như nhỏ dại một lúc đầu thôi; rồi về sau là phải tự giác ngộ, tự lo tu, để mà làm Phật, y như Phật; chớ phải đâu vĩnh kiếp làm tôi đòi cho cốt tượng, cùng sự lập công kể ơn với tượng cốt, đặng mưu sự toại danh hưởng lợi, cho thêm khổ nạn. Thế mới biết rằng: sự thờ phượng không phải thật, thờ phượng là pháp trợ tu cho kẻ nhỏ, chớ đó chẳng phải là cách tu đâu, thì chúng ta đi nhọc lòng bào chữa làm chi?”

 

Còn trong Chơn lý Chánh Kiến thuyết minh về sự thờ cúng, ở phần kết thúc bài đã viết:

 

“Còn như sự thờ cúng thì thờ cốt tượng đâu bằng thờ kinh sách học hành, dầu thờ kinh sách cũng chẳng bằng thờ ông thầy dạy đạo cho mình hiện tại đang sống. Nhưng thờ ông thầy kia sao bằng thờ bản tâm của mình trong sạch.

 

Bởi cung kính là để vâng lời, vâng lời là để thật hành, thật hành là để kết quả, quả ấy là bản tâm.

Vậy nên chúng ta phải thờ cúng lễ bái bản tâm là điều cần trước hơn hết.

 

Như thế, vấn đề thờ cúng ở các tịnh xá của Phật giáo Khất Sĩ đã được tìm hiểu, đến bài ký sự số 40. Ngày nay, ta có thể làm lại như thời đức Minh Đăng Quang hành đạo không? Nếu nói là không thể thì tại sao lại không thể? Nếu ở một tịnh xá có vị trụ trì đem cất các pho tượng đi thì giáo đoàn sẽ phản ứng như thế nào? Ngài thiền sư Nghĩa Huyền ở Lâm Tế, vị Tổ sư của phái Thiền tông Lâm Tế – Trung Quốc đã dạy chúng rằng:

 

Kim Phật bất độ lô                Phật vàng không độ được lò đúc

Mộc Phật bất độ hỏa             Phật gỗ không độ được lửa

Thổ Phật bất độ thủy            Phật đất không độ được nước

Chơn Phật tại kỳ trung.        Phật thật ở bên trong.

 

Đức Phật Thích-ca, đức Tổ sư Minh Đăng Quang và các bậc Tổ sư khác đều chú trọng thờ kính, tưởng niệm, sùng bái ông Phật thật ở trong tâm mỗi người. Chơn lý đó sẽ được gìn giữ, bất kể hoàn cảnh xã hội, hay Đạo sẽ bị biến tướng thành tôn giáo? – Hiện đã bị biến tướng ít nhiều rồi…

 

Xe mấy thầy trò đi là xe bán tải, màu trắng, băng ghế sau hơi chật. Chú Chánh Pháp ngồi giữa tôi và cô Tâm Phúc, đường xa làm gì cho hết thời gian, nên 2 cô chú hay bắt chuyện này kia nói. Nói về ngôi thiền viện Ân Quang định xây ở Đức Vĩnh, chú Chánh Pháp hỏi cô Tâm Phúc:

 

– Bây giờ tôi xin hỏi rõ cô: Ai là chủ đầu tư?

 

Cô Tâm Phúc đưa cả 2 tay về phía hòa thượng ngồi ở ghế trước, kéo dài giọng cười nói:

 

– Thưa đây…

 

Chú Chánh Pháp không đồng ý:

 

– Nói vậy không được. Tôi bảo là mọi người phải có trách nhiệm, chứ không tấn hết cho hòa thượng được. Xây một ngôi chùa đâu phải ít tiền!

 

Cô Tâm Phúc cao thanh chống chế, 2 người cứ đôi co. Lát sau chú Pháp lại đổi người đối thoại, hỏi tôi một chuyện:

 

– Như vậy là tên đạo của các thầy phải có họ Thích, phải không thầy?

 

Tôi đáp:

 

– Ngày xưa tên đạo của Tổ sư là Minh Đăng Quang, chứ không phải là Thích Minh Đăng Quang. Ngài đặt pháp danh cho các đệ tử chỉ có 2 chữ, Tăng lót chữ Giác, Ni lót chữ Liên, mà các Ni mới xuất gia lót chữ Tịnh... Sau này ảnh hưởng Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, mọi người dùng thêm chữ Thích đầu pháp danh.

 

Chú Chánh Pháp hỏi tiếp:

 

– Mà chữ Thích là sao?

 

Tôi giải đáp cho người ngồi kế bên hiểu:

 

– Chữ Thích là nói tắt của Thích-ca. Ví dụ Thích Minh Bình phải nói đủ là Thích-ca Minh Bình. Ban đầu đệ tử Phật vốn không có ai lấy họ Thích-ca, trừ những người đã xuất thân từ dòng họ Thích-ca. Đến khi Phật giáo truyền qua Trung Quốc, khoảng thời Nam Bắc triều thế kỷ V, có một vị đại sư pháp danh là Đạo An. Ngài tướng mạo xấu nhưng là bậc thần đồng xuất chúng. Sau khi ngài Phật-đồ-trừng viên tịch, ngài là người kế thừa thống lãnh chúng Tăng miền đó. Bấy giờ có một danh sĩ là Tập Tạc Sĩ, rất cao ngạo, hay đến thăm ngài Đạo An. Một lần đối thoại cao hứng Tập Tạc Sĩ nói: “Tứ hải Tập Tạc Sĩ.”, nghĩa là danh Tập Tạc Sĩ trùm cả 4 biển. Ngài Đạo An bèn nói đùa lại: “Di thiên Thích Đạo An.”, nghĩa là danh Thích Đạo An át cả gầm trời. Vốn tên đạo của ngài chỉ có 2 chữ, mà để đối đáp cho đủ số chữ nên ngài linh động dùng thêm chữ Thích. Từ đó bắt đầu có nhà sư dùng họ Thích ở Trung Quốc, nhưng ít người dùng. Đến khoảng thập niên 1960, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất ở miền Nam Việt quy định họ Thích cho chư Tăng, Ni trong giáo hội. Rồi bây giờ trở thành nếp chung trong Giáo hội Phật giáo Việt Nam, bên Khất Sĩ cũng có đoàn dùng, còn bên Nam tông vẫn không dùng. Nói ngay, Phật giáo các nước hiện nay không có nơi nào quy định như vậy.

 

Tôi nói tới đó, hòa thượng ngồi ở ghế trước cất tiếng nói át đi:

 

– Không phải vậy. Dùng chữ Thích là để phân biệt với người cư sĩ cũng có pháp danh.

 

Tôi im lặng, một lát hỏi hòa thượng một việc khác:

 

– Bạch hòa thượng, mình ăn chay vậy có dùng mật ong được không?

 

Hòa thượng nói liền:

 

– Phật tử cúng thì mình dùng chứ sao.

 

 Tôi im lặng, nói tại Phật tử cúng thì chưa ổn. Mật ong lấy được do con người ỷ mạnh chiếm đoạt tài sản của loài ong bé nhỏ chăm chỉ. Nếu Phật tử cúng dường mật ong cho nhà sư thì nhà sư nên giảng cho họ hiểu rõ rằng mật ong là món bất tịnh… Mỗi thế hệ có một hoàn cảnh, một phận sự, một sứ mạng, nên vấn đề đã được nhìn nhận khác nhau vậy.

 

Một chuyến đi dài rồi cũng kết thúc. Tối 19 xe đến xã Đức Vĩnh, huyện Đức Thọ, bốn thầy trò nghỉ tạm ở nhà chú Hà Vĩnh Tân, nhà chỉ để thờ tổ tiên, hàng ngày có bác Tê-u-en-nờ-rê-nặng-Tụng 8 mấy tuổi đến quét dọn, hương khói (ông cụ đánh vần rõ như vậy để tôi khỏi gọi là Tùng). Cô Tâm Phúc về nhà chị họ gần bên ở. Hay tin hòa thượng Giác Ngộ về thăm, các cô chú Bí thư xã, Chủ tịch xã, Phó bí thư, Phó chủ tịch, Công an xã… đều đến gặp hòa thượng. Họ rất mong mỏi lập lại được ngôi chùa Ghềnh cho địa phương. Từ 3 năm trước họ đã vào tận Đà Lạt, đến Tịnh xá Ngọc Thiền xin hòa thượng cho quy y Tam Bảo và thỉnh hòa thượng về đây lập lại một cảnh già-lam vẫn còn in bóng trong lòng họ.

 

Buổi sáng, cô Châu Bí thư chi bộ và một cô trẻ nữa bê mâm cơm qua. Họ trải chiếu giữa nhà, trước bàn thờ, dọn 2 mâm, mâm trên đồ chay, mâm dưới mặn. Rồi mọi người cùng dùng. Lần nào các bác đàn ông cũng có uống tí rượu.

 

Sau đó hòa thượng và mọi người vào thăm chùa, nay đã có người quét dọn điện thờ Phật hàng ngày. Trời đổ mưa khá to, mọi người vào cả trong chánh điện ngồi quanh 2 bàn tròn đặt kế cửa sổ bên hông nhà. Sư Minh Đạt vừa từ Nghệ An chạy xe ô-tô vào, hòa thượng giới thiệu sư với mọi người, bảo sư ngày rằm và 30 đến đây hướng dẫn cho bà con lạy Phật, tụng kinh. Sư Đạt rất sẵn lòng, chú Thao Bí thư, chú Việt Chủ tịch… đều lấy số điện thoại của sư.

 

Hơn 8 giờ mấy thầy trò lại ngược đường đi về Hà Nội. Hôm sau chú Sơn Nam đến đón hòa thượng và tôi đi Hải Phòng chơi, thăm các chùa quê chú cho biết. Đến Hải Phòng, đầu tiên xe ghé chùa Hàng, gặp hòa thượng Quảng Tùng. Ngài vui vẻ tiếp hòa thượng Giác Ngộ như gặp bạn cũ, lại mời hòa thượng đi cúng ở một ngôi chùa Tổ gần đó.

 

Trong bữa cơm cúng, tôi được mời ngồi chung mâm với một vị thượng tọa, nghe chú Sơn Nam nói ngày trước là bạn của chú. Trong bữa cơm, sư cụ ấy nói với tôi là Hải Phòng có 700 ngôi chùa mà chỉ có 300 Tăng, Ni. Nhưng không thể cho các Tăng, Ni trong Nam ra, vì sợ là bảo các vị ấy không nghe! Tôi ậm ừ vâng dạ chứ không hiểu gì cả…

 

Khoảng 1 giờ chú Sơn Nam đưa mọi người đến nhà thăm ông cụ thân sinh của chú. Tại đó hòa thượng đã trổ tài viết 2 tay một lúc cho ông cụ xem. Chú Sơn Nam vội lấy điện thoại di động quay lại liền, để tung lên Facebook. Đến chiều hôm ấy xe về lại Hà Nội sau khi đã ghé thăm chùa Cao Linh, một ngôi chùa rất màu mè, tương đối to lớn, và đầy tượng, mà chú Sơn Nam đã mấy lần khen ngợi khi giới thiệu chùa cho mọi người đến thăm. Cũng như Bái Đính, nó không tạo được một môi trường tu hành thanh tịnh cho nhà sư. Bái Đính – Ninh Bình, Cao Linh – Hải Phòng, và rất nhiều chùa nổi tiếng ở Việt Nam hiện nay đang trở thành những điểm du lịch hấp dẫn, thật đáng tiếc!

 

 

 

Chùa Cao Linh – Hải Phòng

 

*****

 

Ngày 23 âm lịch hai thầy trò rời miền Bắc trên 2 chuyến phi cơ đi Đà Lạt và đi Tp. Hồ Chí Minh cùng giờ. Khi chuẩn bị hành lý đi về, tôi cũng chỉ có một cái túi vải của người tu, nên hòa thượng bảo tôi mang hết 4 gói bột sắn của cô Diệu Hoa cúng dường, ngài không mang. Đến phi trường Nội Bài, lúc qua cổng an ninh, tôi để giỏ, 4 ký bột trắng và 2 cái điện thoại (một nghe, một thu âm) lên khay chạy qua máy quét rồi vào cổng. Anh công an trẻ măng đứng đón bên trong, chỉ tôi bước vào vị trí 2 dấu chân, ra hiệu tôi dang ngang 2 tay như chúa Giê-su. Anh ta cầm dụng cụ rà khắp quanh người tôi, lại dùng tay vỗ vài chỗ, có lẽ do cái y thượng tôi mặc bằng vải dày quá, phồng to hơn bình thường.

 

3 giờ máy bay cất cánh, 5 giờ kém 10 phút đáp xuống sân bay Tân Sơn Nhất. Khi đang bay trên mây, anh thanh niên ngồi bên mấy lần định bắt chuyện với tôi. Đến lúc anh ta giở xem quyển sách của hãng hàng không, tôi cũng ngó xem. Xem xong, anh ta đưa qua cho tôi. Tôi cầm lật lật xem một chút. Lúc tôi cất quyển sách đó vào lưng ghế trước mặt, anh ta quay qua hỏi đường đột:

 

– Thầy là phái Tiểu thừa à?

 

Tôi lắc đầu, nói:

 

– Không phải.

 

Anh ta hỏi tiếp:

 

– Nhưng thầy đâu mặc như phái Đại thừa?

 

Tôi giải thích:

 

– Theo sư biết thì Phật pháp chỉ có 5 thừa là Người, Trời, Thanh văn, Duyên giác và Bồ-tát. Nhưng Thừa là trình độ chứ không phải là phái gì cả.

 

Anh ta phân bua:

 

– Thì trong trường đại học dạy như thế, dạy Phật giáo có 2 phái Đại thừa và Tiểu thừa.

 

Tôi nói:

 

– À, mấy giáo sư soạn sách dạy về Phật giáo trong đại học không đúng. Họ không hiểu mà cứ soạn như thế. Để sư nói rõ cho chú biết: Chú ở Hà Nội phải không?

 

– Dạ không, con ở Thành phố, đi Hà Nội chơi.

 

Người miền Nam ít ai gọi các sư là thầy như anh này. Tôi nói tiếp:

 

– À, vậy thì ở Thành phố có chùa nào chuyên xem bói chú biết không?

 

– Ơ…

 

– Ý sư là chùa chuyên xem bói thì thuộc thừa nào của Phật pháp?

 

– Nghe nói họ là Đại thừa mà.

 

Tôi khẳng định:

 

– Xem bói chẳng thuộc cái thừa nào của Phật pháp cả.

 

Anh ta suy nghĩ một chút rồi nói:

 

– Thầy nói cũng đúng, xem bói ăn tiền sao gọi là nhà Phật được. Mà thầy là phái nào?

 

– Sư à? Sư xuất thân từ phái Khất Sĩ. Chú thấy sư thuộc thừa nào?

 

– Con không biết.

 

Thôi cuộc đàm thoại tạm dừng ở đó. Sao người đời cứ lẫn lộn giữa Thừa và Phái vậy ta? Mà họ cứ bận lòng mấy chuyện To, Nhỏ làm chi không biết! Một cái tên sẽ nói lên bản chất sao? Đúng là lầm to.

 

Hôm đó, chuyến đi của tôi gặp phải mấy duyên kỳ ngộ, kể ra cũng lạ. Lúc xuống sân bay, tôi lên mấy xe buýt qua Bến xe Miền Đông, mua một vé xe về huyện Đạ Tẻh thăm sư Minh Phẩm, định đi thêm 1, 2 ngày mới về tịnh xá. Lúc đang đứng đón chuyến xe buýt tiếp theo, bỗng nhiên có một chú trung niên chạy xe 2 bánh rà lại, người trông lịch sự, đầy đặn, trắng trẻo, cất tiếng hỏi tôi:

 

– Sư ơi, sư có bán gì không?

 

Tôi ngạc nhiên hỏi lại:

 

– Bán gì?

 

Hắn lặp lại câu hỏi:

 

– Sư có bán gì không?

 

Tôi trả lời:

 

– Ông sư mà buôn bán gì!

 

Hắn hỏi tiếp hơi gắt:

 

– Chớ sư xách cái gì trên tay đó?

 

Tôi hỏi vặn lại:

 

– Sư xách cái gì cũng phải nói với chú sao?

 

Hắn đỏ mặt bực bội cua xe đi, còn quăng lại cho nhà sư một câu nói:

 

– Cũng lừa đảo như nhau cả thôi!

 

Quái thật! Đã gọi “Sư ơi” mà còn nghĩ người ta cũng như mình à? Nếu thấy người ta không hơn gì mình thì gọi một tiếng “sư” làm chi? Tại 4 cái bị bột trắng này chớ gì? (Nghĩ đến đó tôi phì cười). Đã từng có kẻ nào đó giả sư đi bán ma túy ở Việt Nam à? Ôi, thật giả lẫn lộn, cần phải tìm hiểu cho rõ vậy. Cũng chính vì điều này mà Trung Giang Ký Sự đã được viết, để làm bước đệm cho tác phẩm Lịch Sử Đạo Phật Khất Sĩ. Tác phẩm ký sự này sẽ được in ra hay chỉ đăng trên mạng, đến bây giờ tôi cũng chưa quyết định…

 

 

 

 



 

[1] Gọi ngài là Vua Trần Nhân Tông thì không đúng.

 

[2] Ông Nguyễn Trung Tín đã giác ngộ Cách mạng từ thời trẻ, đến già lại được hân hạnh giác ngộ Phật pháp, thật đáng mừng. Ông đã vượt qua được Đoạn kiến – Chết rồi là hết, rất nhiều người còn không bằng ông.

 

------------------------------------------

 

 

Các bài liên quan