CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC THẦN DIỆU CHỮA DỨT MỌI TÂM BỆNH CỦA CHÚNG SANH!

Thư viện Chánh Pháp / Tác phẩm mới / KS. 35 - Trung Giang

Tâm Nguyên , Thứ Sáu 20-05-2016

 

Trung Giang Ký Sự – kỳ 35

 

     Hành Vân     

 

 

Ngày 7/11/2015, tôi khởi sự viết về đoàn Ni trưởng Trí Liên. Như đã hẹn, sáng hôm đó tôi mang máy chụp hình, máy thu âm, vở, bút và USB đến Tịnh xá Ngọc Hiệp ở Tân Hiệp. Lúc tôi ra đường Quốc lộ 51 đón xe về Bến xe Miền Tây là 8 giờ rưỡi. Đã hơn một năm nay, sau khi đường cao tốc Tp. Hồ Chí Minh – Long Thành đưa vào sử dụng, các hãng xe Hoa Mai, Kumho… đã mở thêm tuyến Vũng Tàu – Bến xe Miền Tây rất tiện cho mọi người.

 

Bốn tiếng sau tôi mới đến Ngọc Hiệp, quãng đường chỉ có gần 120km. Dùng cơm trưa xong tôi lên phòng khách Tăng nghỉ, đến hơn 1 giờ thì bắt tay vào việc. Hôm đó tôi đã ngồi nói chuyện suốt với Ni sư Tuyết Liên, hỏi về thời Ni trưởng Trí theo Tổ, đi chung với chư Ni Khất Sĩ, ra cất tịnh xá, xin đi riêng, thâu nhận đệ tử, tác phong sinh hoạt; và hỏi về đoàn thể của Ni trưởng Trí từ trước cho tới ngày nay… Đến hơn 5 giờ chiều, tôi lo ghé Tân Bửu Tháp để kịp chụp hình trước khi trời sụp tối, Ni sư Tuyết đã cho người gọi giúp một chiếc xe ôm. Thì ra Tịnh xá Tân Bửu Tháp ở ngay bên công viên lớn chỗ vòng xoay Tân Trụ của thành phố Tân An, tôi đã đến mấy lần mà không để ý.

 

 

 

Tịnh xá Tân Bửu Tháp, nơi có ngôi tháp đặc biệt do Ni trưởng Trí Liên cất.

 

 

Đến ngày 13, nhân dịp sư Minh Sơn mời cúng ở xã Vĩnh Công, cúng xong tôi đi thêm 4km đến Tịnh xá Ngọc Ẩn ở Tầm Vu gặp Ni sư Khoa Liên, chiều về Ngọc Lâm. Hôm sau tôi qua 3 nhà con ông Lý Văn Thạnh ở phía trước Tịnh xá Trung Tâm Giáo đoàn V, xong ghé Ngọc Lâm xin cơm ăn rồi đi luôn Ngọc Quang. Khoảng hơn tuần sau tiện đường tôi lại ghé thêm Ngọc Vân và Ngọc Phú để ghi nhận thêm ý kiến của 2 vị Ni trưởng và Ni sư ở 2 nơi ấy…

 

 

 

Ni trưởng Trí Liên, 1901 – 1984, Trưởng đoàn Ni giới Khất sĩ

của Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam.

(Ánh mắt mang những hoài bão xây dựng đạo tràng, tiếp Tăng độ chúng…)

 

 

Nói về Ni trưởng Trí Liên, những người đã từng biết bà cụ đều sẽ nghĩ ngay đến một vị trưởng lão Ni trang nghiêm, đằm thắm, hòa đồng với chư Ni đồng học, cung kính chư Tăng, có tinh thần tổ chức, và rất ý thức vai trò trưởng đoàn của mình. Thuở còn ở tại gia bà là một người con, khi lập gia đình thì làm vợ, rồi làm mẹ của một bầy con, lo buôn bán làm ăn ở chợ Thủ Thừa như nhiều phụ nữ khác. Bà không biết chữ, đến khi xuất gia mới được chư Ni dạy cho. Vậy mà 36 năm tu hành bà đã làm được nhiều việc hữu ích cho giáo hội. Đây là bản tóm tắt quá trình hành đạo của Ni trưởng Trí Liên, do tỳ-kheo Ni Tuyết Liên ghi lại vào năm 1982 theo lời thầy kể:

 

– Ni trưởng Trí Liên xuất gia và thọ giới Sa-di Ni vào ngày mùng 1 tháng 11 năm Mậu Tý 1948 tại Kỳ Viên Tự – Bàn Cờ – Sài Gòn.

 

– Về chùa Tây Thiên ở Bình Tây – Chợ Lớn trụ một năm.

 

– Năm Canh Dần 1950, Ni trưởng theo đức Tôn sư về Vĩnh Long hành đạo, trụ tại Pháp Vân tịnh xá.

 

– Năm Tân Mẹo 1951, đức Tôn sư dạy Ni trưởng đi mở đạo ở Sa Đéc. Đến nơi Ni trưởng ở đậu chùa cô Hai Nghĩa, xin được đất cất 2 cái cốc.

 

– Năm Nhâm Thìn 1952, Ni trưởng đi mở đạo tại Long Xuyên, đầu tiên ở đậu nhà bà bóng để tìm đất; bà bác vật Lầu dâng cúng đất, sau lập nên ngôi Tịnh xá Ngọc Long.

 

– Cuối năm 1952 đi về Rạch Giá, 2 vị thí chủ là bà tòa Điền và bà huyện Đài phát tâm dâng cúng đất và 2 cái cốc, sau lập nên ngôi Tịnh xá Ngọc Hải.

 

– Năm Quý Tỵ 1953, đức Tôn sư dạy đến Châu Đốc mở đạo, ở đậu chùa Châu Viên. Thầy Châu Viên cho đất và cất cho 2 cái cốc, sau lập nên ngôi Tịnh xá Ngọc Phú.

 

– Đầu năm Giáp Ngọ 1954, xuống Bạc Liêu một thời gian ngắn rồi về Ngả Bảy.

 

– Mùng 1 tháng 2  năm Giáp Ngọ, đức Tôn sư lâm nạn, Ni trưởng trở về Long An một thời gian rồi đi Cai Lậy.

 

– Năm Bính Thân 1956, Ni trưởng về Tịnh xá Ngọc Thạnh – Tây Ninh. Kế vào chân núi Điện Bà xin đất cất nên ngôi Tịnh xá Ngọc Truyền làm chỗ tịnh tu.

 

– Năm Tân Sửu 1961, Ni trưởng về mở đạo tại Tân Hiệp, ban Khánh tiết miếu Trung Nghĩa Thần hiến đất cất ngôi Tịnh xá Ngọc Hiệp, khánh thành vào ngày 15 tháng 3 năm Nhâm Dần 1962.

 

– Năm Quý Mẹo 1963, Ni trưởng đến vùng Phú Lâm – Chợ Lớn mở đạo, ông Lý Văn Thạnh pháp danh Thiện Phước, chủ hãng xe đò Lộc Thành phát tâm cúng đất và xây dựng cho ngôi Tịnh xá Ngọc Lâm.

 

– Năm Ất Tỵ 1965, gia đình thầy Giác Long cúng đất lập nên ngôi Tịnh xá Ngọc Trung – Trung Lương – Mỹ Tho.

 

– Năm Đinh Mùi 1967, sư cô Đăng Liên cúng miếng vườn nhà, Ni trưởng chứng minh và lập nên  ngôi Tịnh xá Ngọc Thành – Thủ Đức.

 

– Năm Mậu Thân 1968, bà Hải Ngọc dâng cúng đất ở quận Tân Bình, Ni trưởng chứng minh lập nên ngôi Tịnh xá Ngọc Phú.

 

– Năm Canh Tuất 1970, ông bà Nguyễn Văn Tụi cúng dường đất, Ni trưởng chứng minh lập nên ngôi Tịnh xá Ngọc Vân – Thủ Đức.

 

– Năm Quý Sửu 1973, Ni trưởng thành lập ngôi Tịnh xá Tân Bửu Tháp ở ngã tư Tân Trụ, thành phố Tân An, tỉnh Long An. Nơi đây Ni trưởng cho xây dựng tháp phổ đồng, để sau Ni trưởng và chư Ni trong đoàn viên tịch sẽ hỏa táng rồi đem về nhập tháp phụng thờ chung. Tháp được đặt tên Tân Bửu để kỷ niệm ngôi tịnh xá đầu tiên do Ni trưởng và bạn bè cất ở Thủ Thừa khi còn là cư sĩ, được Tôn sư chứng minh đặt tên là Tịnh xá Tân Bửu.

 

– Đồng thời cùng năm 1973, Ni trưởng chứng minh cho đệ tử là sư cô Đồng Liên về Phú Mỹ tiếp nhận ngôi Tịnh xá Mộc Chơn, là nơi Tôn sư Minh Đăng Quang trồng gốc cây đạo của ngài.

 

                                        Mùa Đông năm Nhâm Tuất 1982

                                                    TKN. Tuyết Liên

 

Bản tóm tắt này còn thiếu những khoản nhận đệ tử, lập đoàn du hành các nơi và các sự kiện khác… Khi biên tập vào bài ký sự này tôi đã bổ xung một câu giải thích về tên Tân Bửu, để nhắc đến ngôi tịnh xá đầu tiên Ni trưởng Trí Liên đã thành lập ở quê nhà khi còn là cư sĩ.

 

Ni trưởng Trí Liên thế danh Phạm Ngọc Lâm, sinh năm 1903 tại làng Bình Phong Thạnh, Tân An, có cha là Phạm Văn Hữu và mẹ là Trần Thị Thiệt. Đây là những thông tin trong giấy tờ tùy thân, còn những thông tin thật đã được kỷ yếu Tâm Hương Tưởng Niệm của Tịnh xá Ngọc Hiệp ấn hành năm 2011 ghi rõ như sau: Ni trưởng Trí Liên thế danh Nguyễn Ngọc Mai, sinh ngày mùng 6 tháng 3 năm Tân Sửu 1901 tại làng Mỹ Lạc Thạnh, quận Thủ Thừa, tỉnh Tân An (nay là tỉnh Long An), thân phụ là ông Nguyễn Văn Tùng, thân mẫu là bà Trần Thị Lựu.

 

 

 

Giấy tùy thân của sư cô Trí Liên được tỉnh Sadec cấp năm 1951

 

 

Năm lên 5 tuổi, bé Ngọc Mai tập ăn chay theo cha mỗi tháng 10 ngày. Mấy năm sau cha dẫn Ngọc Mai đến tận núi Bà – Tây Ninh, lên chùa Linh Sơn Tiên Thạch Tự xin hòa thượng Tâm Hòa cho quy y Tam Bảo, được pháp danh là Diệu Ngộ.[1]

 

Năm 17 tuổi, Ngọc Mai vâng lời cha mẹ thành thân với Khưu Văn Xuân, người Hoa, sinh sống tại chợ Thủ Thừa. Họ sinh hạ được 6 người con, 3 trai 3 gái. Bấy giờ theo bên nhà chồng, cô Ngọc Mai cũng buôn bán tại chợ.

 

Năm 1947, có nhà sư khổ hạnh đến hành đạo ở Tân An. Người nghe sư thuyết pháp về Thủ Thừa khen ngợi, nên cô Ngọc Mai cùng mấy người bạn cũng rủ nhau ra Tân An nghe pháp. Tiếp xúc với ngài khất sĩ Minh Đăng Quang, được nghe những lời ngài giảng, cô Ngọc Mai cảm thấy Phật pháp tưới mát cõi lòng. Sau mấy lần đi Tân An, trở về Thủ Thừa cô rủ mấy người bạn lập ra một ngôi nhà lá để mời nhà sư về đó ở giảng đạo.

 

Thuận duyên đại đức Minh Đăng Quang đã về Thủ Thừa chứng minh cho ngôi nhà lá do các tín nữ mới lập, đặt tên là Tịnh xá Tân Bửu. Nhà sư ở đây hành đạo một thời gian, cô Ngọc Mai và các bạn thường đến cúng dường, nghe sư giảng dạy. Có lần vào tịnh xá xem nhà sư có cần gì không, thấy ngài đang ngồi trên một cái thùng vá y, cô Ngọc Mai rất xúc động. Từ đó thiện tâm tăng trưởng, hạt giống giác ngộ bén rễ đâm chồi, cô Ngọc Mai lập chí được xuất gia làm đệ tử ngài Minh Đăng Quang.

 

Cuối năm 1948, khi đứa con út mới 4 tuổi, cô Ngọc Mai nói chuyện muốn đi tu với chồng, may sao ông bạn đời thông cảm, vui lòng quán xuyến gia nghiệp và chăm lo con cái cho cô được xuất gia học đạo. Khi cô đến Tịnh xá Tân Bửu xin đại đức Minh Đăng Quang cho xuất gia, ngài hỏi ngay: “Bây giờ cô muốn đi xuất gia, mà nếu tôi bảo cô lạy một con chó thì cô có lạy không?”. Cô Ngọc Mai thưa thầy: “Nếu thầy bảo lạy thì con lạy.”. Đại đức Minh Đăng Quang nói: “Vậy cô xuất gia được.”.

 

(Hãy nghĩ xem, tại sao Tổ sư Minh Đăng Quang lại hỏi đệ tử Trí Liên câu đó chứ không hỏi ai khác? Lạy một con chó có bằng lạy Phật, Pháp, Tăng tam bảo không? Đây là một câu hỏi gợi ý cho cả một tương lai chăng?... Trong Chơn Lý có biên dịch bài kệ thuyết minh về đạo lý của lễ lạy Phật, cũng là lễ lạy Pháp, lễ lạy Tăng, và nói chung là đạo lý của lễ lạy:

 

Tánh lạy năng sở đều luống vắng

Cảm ứng nhằm đạo khó khen ngợi.

Ta đến đạo tràng như ngọc tốt

Mười phương chư Phật bóng bày trong,

Thân ta bóng bày trước chư Phật

Đầu mặt nối chân tin trở lại.

 

Tính chất của hành vi lễ lạy là để dứt trừ những chấp nhất về kẻ lạy (năng) và đối tượng được lạy (sở), gọi chung là dứt bỏ nhân ngã, ta người. Khi nhân ngã đốn bỏ thì ngay lúc đó cảm ứng được đạo nhiệm mầu khó khen ngợi của bậc A-la-hán. Chúng ta đến đạo tràng phải như viên ngọc tốt của vua trời Đế-thích (như Đế châu), phải làm cho ảnh hiện được mười phương Phật trong lòng ta. Hoặc nói ngược lại cũng đúng: Khi chúng ta bỏ nhân ngã, để lòng trong trẻo như viên ngọc kỳ diệu của Đế-thích, khiến cho cảm ứng mười phương Phật soi bóng vào, thì lúc đó mới đúng là “Đến đạo tràng”. Vậy nên một lạy này là lúc thân lễ lạy khắp tất cả Phật; lúc đầu, mặt tiếp nối với chân là lúc ta trở lại với tận hư không, khắp pháp giới, trọn vẹn 3 đời Tam Bảo thường trụ!)

 

Từ giã cha mẹ, chồng con, xóm làng, cô Ngọc Mai khăn gói theo thầy trò đại đức Minh Đăng Quang lên Sài Gòn. Tại chùa Kỳ Viên ở khu Bàn Cờ, ngày mùng 1 tháng 11 năm Mậu Tý, (ngày 01/12/1948), cô Ngọc Mai được đại đức Minh Đăng Quang chứng minh cho nhập đạo và thọ giới sa-di Ni, ban pháp danh là Trí Liên. Trước đó 3 ngày (ngày 28/11/1948), người bạn của cô là cô Ngô Thị Sến được đại đức Minh Đăng Quang cho xuất gia, thọ ký pháp danh là Tạng Liên. Khi cô Tạng Liên xin xuất gia đã xin phép thầy cho dẫn con gái theo, được thầy đồng ý, sau bé có pháp danh là Liên Ngẫu. Thấy vậy cô Trí Liên mới xin về nhà dẫn con gái út đi theo, được thầy đặt pháp danh là tiểu Hoa. Khoảng một năm sau thì cha của tiểu Hoa dẫn con về, do thấy theo các sư cô khổ quá.

 

Năm 1949, ngài Minh Đăng Quang và các đệ tử Tăng, Ni ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn hành đạo. Năm 1950 huỳnh y trở gió bay về hướng Nam, đạo Khất Sĩ phát triển mạnh nơi miền Trung Giang, nơi giữa 2 dòng sông cái Tiền Giang và Hậu Giang. Năm đó, tại Tịnh xá Ngọc Viên – Vĩnh Long, cô Trí Liên được bổn sư trao truyền giới pháp Tỳ-kheo Ni. Từ đây ngài Minh Đăng Quang hay chỉ đạo cho sư cô Trí Liên và chư Ni đi nơi này, nơi kia mở đạo, còn chư Tăng thì đi chung với ngài. Chư Ni đi trước, chư Tăng đến sau, phối hợp cùng nhau kiến lập tịnh xá đạo tràng, đắp tô nền Đạo Phật Khất Sĩ.

 

Năm 1952, hai sư cô Trí Liên và Chơn Liên về Tịnh xá Tân Bửu ở Thủ Thừa hành đạo. Một hôm, sau khi đi thăm thầy ở đình Phú Lâm – Chợ Lớn về, sư cô Trí Liên nghe trong mình khó chịu, nghĩ là chỉ cảm sơ sài. Đến khuya hôm ấy, giờ tu thiền không thấy bạn mở cốc bước ra, sư cô Chơn Liên mới đến gọi. Không nghe trả lời, sư cô mở cốc bước vào thì thấy sư cô Trí Liên đã chết từ hồi nào, toàn thân đã cứng lạnh. Bấy giờ sư cô Chơn ngồi bên cạnh xác bạn chờ trời sáng. Sáng ra, sư cô xin xe lên Chợ Lớn, vào đình Phú Lâm gặp đại đức Minh Đăng Quang thưa: “Bạch đại đức, cô Trí đã chết hồi hôm rồi.”. Ngài Minh Đăng Quang gật đầu bảo: “Cô Tạng, cô Đức về nuôi cô Trí đi.”. Các sư cô ngạc nhiên thưa: “Bạch đại đức, sư cô Trí chết rồi mà nuôi gì nữa?”. Thầy bảo: “Nhưng tôi đã đổi số cổ rồi, cứ nghe lời tôi đi!”. Hai sư cô về Tân Bửu, cạo gió xác bạn và lay gọi, một lát sau sư cô Trí Liên sống lại, thật kỳ diệu!

 

(Chuyện này trong Tâm Hương Tưởng Niệm lại kể khác mấy chi tiết: “Năm 1950, Ni trưởng trở về chốn cũ Tịnh xá Tân Bửu, huyện Thủ Thừa hành đạo, cùng trụ có Ni trưởng Chơn Liên. Một hôm, sau khi đi thăm Tổ sư ở đình Ngọc Lâm về… Ni trưởng dần dần hồi tỉnh sau hơn 8 giờ tim ngừng đập.”. Lưu ý mấy chỗ gạch chân: Kỷ yếu ghi thời điểm xảy ra sự kiện là năm 1950, nhưng đã xác định được thời điểm chính xác là năm Ni trưởng Trí Liên 52 tuổi Ta, tức là năm 1952. Nói đình Ngọc Lâm là không chính xác, mà phải là đình Phú Lâm như tên của nó, hay Ngọc Lâm Tự theo cách gọi nội bộ của thầy trò ngài Minh Đăng Quang. Người đã chết cứng từ 12 giờ khuya, hôm sau mấy sư cô xin xe lên xuống Chợ Lớn – Thủ Thừa không phải mau, tính ra đến gần trưa hôm sau người chết mới sống lại, sao chỉ có hơn 8 tiếng?)

 

 

 

Kỷ yếu Tâm Hương Tưởng Niệm của Tịnh xá Ngọc Hiệp ấn hành năm 2011

 

 

Đến sau này có đợt cấp chứng điệp cho các đệ tử, ngài Minh Đăng Quang ghi trong chứng điệp của sư cô Trí Liên rằng: Phạm Ngọc Lâm pháp danh Trí Liên, xuất gia nhập đạo, thọ trì 10 giới Sa-di Ni và Tứ y pháp ngày mồng 1 tháng 11 năm Mậu Tý 1948 tại Kỳ Viên Tự, Bàn Cờ, Sài Gòn; thọ Cụ túc giới Tỳ-kheo Ni ngày rằm tháng 7 năm Tân Mão 1951. Chính sư cô Trí Liên cũng không hiểu tại sao thầy lại ghi trong chứng điệp của mình là tỳ-kheo Ni năm Tân Mão 1951, nhưng sư cô vẫn dán hình đầy đủ để đóng dấu đè lên đó.

 

 

 

 

Mặt trước và mặt sau chứng điệp thọ giới của Ni trưởng Trí Liên

do Tổ sư Minh Đăng Quang cấp

 

 

Nhân duyên của sư cô Trí Liên trong chúng Ni đồng học không nhỏ, do tuổi tác và tâm hạnh của cô. Trong khi chư Ni khất sĩ đi khất thực hóa duyên mỗi sáng, 3 sư cô Huỳnh Liên, Bạch Liên và Thanh Liên đi đầu, trẻ đẹp, nên có khi bị người xoa đầu, bẹo má. Nghe trình đại đức Minh Đăng Quang đã bảo chư Ni cạo lông mày để hoại sắc cho người khỏi mê, đồng thời bảo sư cô Trí Liên đi đầu đoàn Ni, lấy tướng to lớn và tuổi tác cao thị uy để khiến người không khởi tà tâm. Đặc biệt ngài dạy chư Ni mỗi khi qua hầu thầy phải có sư cô Trí Liên đi cùng, đi ít nhất 4 vị, và ngài cũng chỉ tiếp khi có sư thị giả hầu một bên. Bởi thầy trò đều trẻ tuổi, nam nữ khác phái, có sư cô Trí Liên cũng như có người lớn tuổi trí thức chứng dự. Từ đó chư Ni có phần nể sư cô Trí Liên, không dám coi thường “bà cụ” không biết chữ này.

 

Bậc đạt đạo đâu còn tướng trẻ già, nam nữ, nhưng lúc này ngài Minh Đăng Quang còn trẻ trung, phúc hậu quá, nhất là gương mặt rạng ngời, nhiều người chỉ thấy “Nhà sư trẻ đẹp” chứ không thấy được tâm đức và trí tuệ, thần thông của ngài. Vì tâm trò chưa thanh tịnh, trong tâm có tướng nam nữ, tướng trẻ đẹp… mà Sư trưởng Minh Đăng Quang đã phải bảo chúng Ni: “Đừng ngó mặt tôi. Ngó mặt tôi là đọa đó!”. Bên chư Tăng đệ tử ngài không cấm ngó mặt, nhưng chư Tăng nghe vậy cũng không dám ngó mặt thầy. Thuở xưa trong núi Tuyết, tiền thân Phật Thích-ca đứng chiêm ngưỡng Phật Phất-sa đang nhập định Hỏa quang 7 ngày đêm không chớp mắt, nhờ vậy mà vượt qua mấy kiếp, thành Phật trước ngài Di-lặc.[2] Còn nay ngó mặt Sư trưởng Minh Đăng Quang lại bị đọa là do có tâm bất chánh rồi…

 

Đầu năm 1954 Sư trưởng Minh Đăng Quang bị bắt mất tích, hơn 60 Ni cô trong Giáo hội Liên hoa của ngài không khỏi hụt hẫng, chới với. Các cô ẩn nhẫn ở các tịnh xá, một số lẻ bỏ đi tản mác. Tình cảnh đó được chư Ni nặng lòng cảm thán thành thơ:

 

Con khờ dại một đàn chiu chít

Ngày qua ngày xúm xít thở than!

Biết ai nhờ cậy hỏi han

Thầy con sức khỏe bình an thế nào?

 

 

Thầy thọ lãnh tai nạn thống khổ

Con cam đành phận số hẩm hiu

Còn ai nâng đỡ dắt dìu

Còn ai chăm chút chắt chiu con bầy.

 

Kể từ buổi đức Thầy xa vắng

Phận các con cay đắng biết bao

Thế thường nước đục thả câu

Lòng người hơn đáy biển sâu khôn dò…

 

Tình cảnh thật tội nghiệp. Nhưng rồi chư Ni đã cố gắng đứng lên, chắc tay giữ vững Giáo hội Liên hoa. Đức Minh Đăng Quang xuất thế thành lập Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam cho đời, trong 7 năm đã hoàn thành đạo nghiệp lớn lao. Nền đạo này có tổ chức giáo hội là Giáo hội Tăng-già Khất sĩ, trong đó bên Ni giới được gọi là Giáo hội Liên hoa. Thế nhân ưu ái gọi nữ giới là những bông hoa, còn ngài Minh Đăng Quang xem chư Ni khất sĩ là những hoa sen trong giáo hội. Từ khi thâu nhận các đệ tử Ni, ngài Minh Đăng Quang đã hướng dẫn, sắp xếp cho các vị ấy tự quản, và sinh hoạt chung trong tổ chức Giáo hội Tăng-già Khất sĩ. Ngài chưa từng chỉ đạo cho các vị ấy đi riêng, lập một giáo hội độc lập. Danh nghĩa Giáo hội Liên hoa là tiếng gọi nội bộ, một cách trân trọng của thầy trò, có giá trị như danh từ Ni bộ ngày nay.

 

Năm 54, 55 rồi cũng qua, năm 1956 sư cô Trí Liên nảy ý đi lập tịnh xá. Sư cô xin phép đại chúng rồi đi lên miền Tây Ninh, nhắm hướng về núi Bà đã từng ghé thuở nhỏ, cùng đi có 2 sư cô Văn Liên, Phổ Liên và bé Tịnh Nguyệt (sau đổi là tiểu Hường). Đầu tiên 4 người đến ở Tịnh xá Ngọc Thạnh đang do Phật tử trông nom. Sau đó sư cô Trí Liên lên núi Bà thăm chùa Linh Sơn Tiên Thạch Tự. Biết chư Ni đang tìm chỗ cất tịnh xá, quý thầy nơi đây đã hoan hỷ cho một miếng đất dưới chân núi, rộng 7000 mét, nằm ngay đầu đường đi lên chùa. Đất đã có, 3 sư cô cùng nhau thành lập tịnh xá, sư cô Trí Liên đặt tên là Ngọc Truyền. Chữ Truyền này hẳn là tâm nguyện truyền trao hạnh y bát khất sĩ cho khắp nhân sanh bá tánh. (Như thế sư cô Trí Liên sẽ còn đi nhiều nữa chứ không ở mãi chỗ chân núi này.)

 

 

 

3 sư cô Trí Liên (giữa), Văn Liên (phải), Phổ Liên tại Tịnh xá Ngọc Tuyền – núi Bà Tây Ninh

(Hình hơi mờ và đã chỉnh cho có chút màu)

 

 

Thành lập xong tịnh xá, sư cô Trí Liên vẫn luân phiên đổi chỗ theo cách thức của các nhà khất sĩ, qua lại 2 chỗ Ngọc Truyền ở Tây Ninh và Ngọc An ở Tân An. Bấy giờ mỗi năm sư cô lại có một cô tập sự theo y chỉ do chư Ni phân công.

 

Năm 1960, mùng 1 tháng 4 âm lịch, tại Tịnh xá Ngọc An sư cô Trí Liên thế phát cho một cô bé 11 tuổi muốn đi tu để báo hiếu cho cha mới mất, đặt tên là tiểu Khoa. Hơn 2 tháng sau sư cô nhận đệ tử thứ 2 là cô Liên Ngàn. Cuối tháng 6 sư cô Huỳnh Liên ghé Ngọc An thấy tiểu Khoa nên bảo sư cô Trí Liên cho về Ngọc Phương đi học văn hóa. Sư cô Trí xuống nói với đệ tử, tiểu Khoa thưa: “Con không đi học! Con vô tu thì con học kinh, học luật chớ con không học đời.”. Sư cô Trí nói lại với sư cô Huỳnh, sư cô Huỳnh nói: “Đứa con nít bây lớn mà sư cô không dạy được hay sao?”. Sư cô Trí lại xuống khuyên bảo đệ tử, tiểu Khoa thưa: “Vậy để con đi cho sư cô thầy không mang tiếng là không dạy được một đứa con nít. Nhưng con không đi học, con đi rồi con sẽ trốn về.”. Tiểu Khoa về Ngọc Phương học văn hóa cùng 49 tiểu khác, 18 năm sau còn lại 2 người, 20 năm sau còn lại một mình cô, các vị kia đều lần lượt hoàn tục hết.[3]

 

Lễ Tự tứ năm 1960 ở Tịnh xá Ngọc Vinh – Trà Vinh, sư cô Trí Liên tác bạch với giáo hội xin đi tu tịnh.[4] Giáo hội đồng ý, nhưng bên Ni giới thì sư cô Huỳnh Liên bắt giữ lại tất cả đệ tử, chỉ cho sư cô Trí đi một mình. Bấy giờ tiểu Khoa chun vào gầm xe bám cứng quyết đòi đi theo thầy chứ không chịu ở lại, mấy người kéo không ra nên phải để bé đi.[5] Hai thầy trò về Ngọc Sơn – Bình Đông, rồi lên Tây Ninh ở Tịnh xá Ngọc Truyền. Qua tháng sau, ngày mùng 8, sư cô Trí tế độ cho cô Liên Tài. Từ đó 3 thầy trò luân chuyển qua lại giữa Ngọc Truyền và Ngọc Sơn – Bình Đông để hành đạo.

 

Sau đó giáo hội giao Tịnh xá Ngọc Thạnh cho sư cô Trí Liên. Được sự trợ duyên đúng lúc này, sư cô Trí và các Ni cô Tài, Hường, Nhậm, Huê, Khoa luân chuyển qua lại 2 tịnh xá ở thị xã Tây Ninh hành đạo. Đầu năm 1961 sư cô Trí Liên gặp Pháp sư Giác Nhiên xin mượn được 2 tịnh xá Ngọc Thanh – Gò Dầu và Ngọc Thuận – Trảng Bàng làm 2 điểm hành đạo, mỗi chỗ ở nửa tháng. Rồi sư cô Trí xin giao lại Tịnh xá Ngọc Thạnh cho Pháp sư.[6]

 

Bấy giờ khi về Ngọc Truyền trong chân núi Bà ở xa dân, với số người hiện có của tịnh xá thì điều kiện tự túc không đủ, nên sư cô Văn Liên bàn với sư cô Trí Liên là phải tiếp tục đi hành đạo. Thế là 2 người lớn chia nhau một đi một ở, sư cô Trí lo tìm thêm người cho chuyến đi này. Sư cô mới tìm cô Phật tử Ngọc Giác nói chuyện: “Sư cô định đi hành đạo, cần phải có thêm người, cô Ngọc Giác xuất gia theo giúp cho sư cô được không?”. Cô Giác thưa: “Con là đệ tử của Pháp sư, nếu có xuất gia thì theo Pháp sư chứ con không về Ngọc Phương đâu.”. Sư cô Trí Liên đồng ý không về Ngọc Phương. Sau đó sư cô xuống tóc cho cô Giác, dẫn về Tịnh xá Ngọc Thành ở Tân An để Pháp sư chứng minh truyền giới Sa-di Ni cho cô, đặt pháp danh mới là Liên Thinh. Về lại Ngọc Truyền, sư cô Trí Liên tổ chức một chuyến hành đạo dài, gồm có sư cô và sư cô Phổ Liên, cô Liên Tài, Liên Thinh và tiểu Khoa.

 

 

 

Hàng đầu, từ phải qua là các cô: Tài Liên, Thinh Liên, Quy Liên, Liên Vạn.

 

 

Từ Tây Ninh, các cô du hành dần xuống Gò Dầu, Trảng Bàng, Củ Chi, Gia Định, Sài Gòn – Chợ Lớn, Bến Lức, Tân An rồi Tân Hiệp. Lần đi này sư cô Trí có mang theo một hủ cơm khô ngào đường, mỗi sáng lén cho tiểu Khoa ăn vài muỗng. Tại Tân Hiệp, họ ghé miếu Trung Nghĩa Thần ở làng Tân Lý Tây xin tá túc. Miếu này đã lập trên trăm năm, thờ một vị quan võ tử trận. Các cô về mấy ngày thì miếu cúng ngày trùng cửu, ngày 9 tháng 9 âm lịch năm 1961.

 

Trước đó có một tiền bối ghé thăm miếu, người ta đến nghe ông nói chuyện. Ông tiên tri: “Chỗ này sau có một ngôi chùa, sung túc lắm.”. Khi thấy sư cô Trí Liên và các cô về miếu, mượn ván lót nằm, ngày đi khất thực, trưa về độ ngọ… Ban Khánh tiết của miếu mới hỏi thăm, đáp: “Chúng tôi tu hạnh khất sĩ đi xin ăn tu hành, ăn ngày một ngọ, không giữ tiền.”. Họ hỏi tiếp: “Rồi đi suốt vậy sao?”, đáp: “Chúng tôi đi hễ đủ duyên thì tìm đất cất tịnh xá ở hành đạo.”. Ban Khánh tiết mới hội ý với nhau, rồi họ xin hiến miếng đất hương hỏa của miếu để sư cô Trí  Liên làm tịnh xá. Miếng đất này rộng 900 mét, một nửa là ruộng lúa, một nửa lên giồng trồng khoai… Sau khi cúng đất, Ban Khánh tiết miếu Trung Nghĩa Thần cùng dân làng Tân Lý Tây cất cho các sư cô một cái cốc lá.

 

Lúc này cô Tài về lại Ngọc Truyền, trong cốc kê 2 tấm ván cho 2 sư cô nằm, còn 2 đệ tử Thinh và Khoa trải đệm nằm trên đất. Được ít bữa sư cô Phổ cũng về núi, còn lại 3 thầy trò. Sư cô Trí mới về chợ Thủ Thừa xin gia đình bán bớt 2 căn nhà mặt phố, đem tiền gởi cho Phật tử lo xây dựng, mướn người đắp đất cao 8 tấc để làm chánh điện, dựng cột cây, đóng vách lửng bằng gỗ có thể tháo rời, lợp mái tôn… Thuê người làm nhưng mấy thầy trò cũng gắng sức phụ. Bấy giờ ngày ăn một bữa mà chiều nào cũng ham đi gánh đất, Liên Thinh cuốc, tiểu Khoa gánh, mỗi lần được mấy cục, có cô Ngọc Tôn gần đó qua phụ với 2 chị em. Rồi 3 người lại đến chùa Tiên Thạnh gần đó lượm gạch cũ về xây tịnh xá, gạch to bề 3 tấc, bề 2 tấc, dày 6, 7 phân. Tịnh xá làm chưa xong thì ngày mùng 8 tháng giêng năm 62 có 2 cô xuất gia là Liên Lan và Liên Quy. Đến rằm tháng 3 năm 1962 khánh thành tịnh xá, đặt tên Ngọc Hiệp. Chiều hôm đó cô Ngọc Tôn được xuất gia, đến mấy tháng sau thọ giới Sa-di Ni đổi pháp danh là Liên Đồng.

 

 

 

Tịnh xá Ngọc Hiệp – Tân Hiệp, để ý kiểu vách lửng bằng gỗ có thể tháo rời của các tịnh xá thời đó do ngài Minh Đăng Quang thiết kế

 

 

Phần lớn các đệ tử của sư cô Trí Liên đều xuất gia tại Ngọc Hiệp. Tháng 4 âm lịch năm 1962 cô Liên Vạn 15 tuổi xuất gia, lần lượt tiếp theo trong mấy năm là các cô Liên Huệ, Liên Đăng, Liên Tịnh, Liên Hạnh, Liên Thân, Liên Truyền, Liên Nhiên, Liên Cảnh, Liên Nhơn...  Có đệ tử thì phải có thêm cơ sở, cuối năm 1962 sư cô Trí Liên dẫn đệ tử lớn là cô Liên Tài lên Phú Lâm tìm đất. Chính hồi mới xuất gia theo Sư trưởng Minh Đăng Quang, sư cô Trí đã gắn bó nhiều với vùng này. Lần thứ 2 lên Phú Lâm tìm đất sư cô Trí đi với tiểu Khoa. Khi đến khu đất của ông Lý Văn Thạnh, chủ hãng xe đò Lộc Thành gặp lúc trời nắng to, 2 thầy trò vào đứng dưới bóng cây dương. Tình cờ ông Thạnh đi ngang, ghé vào xẳng xái hỏi lớn: “Bà cần gì?”. Sư cô Trí đáp ôn tồn: “Sư cô đi tìm đất cất chùa.”. Ông Thạnh liền nói lớn: “Đất của tui đó. Bà muốn cất kiểu gì cho bản đồ đi tui cất luôn cho!”. Chuyện đường đột nghe cứ như đùa, nếu là thật thì quá may mắn ngoài sức tưởng tượng, sư cô Trí Liên hỏi lại cho rõ rồi thành tâm cảm tạ và hẹn ông mùng 8 sẽ lên lại. Tới ngày lên, ông Thạnh và gia đình đãi cơm các sư cô rồi ông lái xe 16 chỗ chở mọi người về Ngọc Hiệp, cùng đi còn có vợ con ông. Đến nơi, ông vẽ mẫu, lấy thước đo kỹ lưỡng, về xây chánh điện, nhà cửu huyền, nhà bếp, nhà vệ sinh và 3 cái cốc lá tươm tất, lại đào ao trồng sen, xây cầu bắt qua... Chánh điện ông Thạnh cho đúc cột bê-tông, vách tô đá rửa, nền lót gạch bông… thật là tốt và đẹp nhất, tân thời nhất so với mấy chục ngôi tịnh xá đơn sơ của đạo Khất Sĩ lúc bấy giờ.[7] Xong, ông làm cổng, để tên Tịnh xá Ngọc Lâm như lời dặn rồi thỉnh sư cô Trí Liên đến cúng dường, (mà trước đó sư Giác Huệ có ý đặt tên tịnh xá là Ngọc Phú, khi sư giúp coi xây dựng).

 

Tháng --- năm 1963 ông Lý Văn Thạnh thỉnh tượng Phật Thích-ca về rồi tổ chức khánh thành Tịnh xá Ngọc Lâm – Phú Lâm. Từ đây sư cô Trí Liên cắt chúng luân chuyển 2 tịnh xá Ngọc Hiệp và Ngọc Lâm, 3 tháng đổi chỗ một lần. Khi chư Ni về ở mỗi ngày đi khất thực sống, mẹ ông Thạnh là bà Nguyễn Thị Quyên pháp danh Từ Ngọc lại đội cơm qua xớt bát cúng dường thêm cho đủ mỗi ngày, bà làm vậy suốt một thời gian dài. Thời đó đất Tịnh xá Ngọc Lâm vẫn do bà Nguyễn Thị Quyên đứng tên, mãi đến sau Giải phóng mới đổi cho tịnh xá.

 

 

 

Một góc chánh điện Tịnh xá Ngọc Lâm, cửa 8 mặt thiết kế:

nửa dưới mở ra, nửa trên cuốn lên, thông thoáng 8 mặt.

 

 

 

3 cốc lá ở Tịnh xá Ngọc Lâm – Phú Lâm, cây dương phía sau.

Chư Ni sắp hàng đi tới cho Phật tử cài hoa hồng.

 

 

 

Cổng Tịnh xá Ngọc Lâm, sư cô Trí Liên dẫn đệ tử đi khất thực, đứng kế là cô Quy Liên.

 

 

Rồi duyên lành tiếp tục đến với sư cô Trí Liên và chư Ni đệ tử, năm 1965 lập Tịnh xá Ngọc Trung – Trung Lương, năm 1967 lập Tịnh xá Ngọc Thành – Thủ Đức, năm 1968 lập Tịnh xá Ngọc Phú – Phú Thọ Hòa (quận Tân Bình, Tp. Hồ Chí Minh ngày nay), năm 1970 lập Tịnh xá Ngọc Vân – Thủ Đức, năm 1973 lập Tịnh xá Tân Bửu Tháp – Tân An… Tất cả là 8 tịnh xá với 4, 5 chục Ni cô. (Lúc này Ngọc Truyền và sư cô Văn Liên vẫn tính chung trong đây.)

 

Năm 1958, Tịnh xá Ngọc Phương ở Gò Vấp – Gia Định được khai sơn để làm trụ sở của Giáo hội Khất sĩ Ni giới Việt Nam vừa được phép thành lập đầu năm. Giáo hội này có Ban Trị Sự sáng lập gồm các vị:

 

– Trị sự trưởng: Võ Thị Hiển pháp danh Bạch Liên

 

– Trị sự phó: Huỳnh Thị Hạnh pháp danh Thanh Liên

 

– Thư ký: Lê Thị Được pháp danh Thành Liên

 

– Kiểm soát viên: Nguyễn Thị Có pháp danh Chơn Liên

 

– Cố vấn: Ngô Thị Sến pháp danh Tạng Liên.

 

Trong danh sách trên không có tên Nguyễn Thị Trừ pháp danh Huỳnh Liên. Việc chư Ni lập một giáo hội độc lập, có hội viên toàn là các Ni cô bất luận quốc tịch, thật là một điều “Tiền vô cổ nhân, hậu vô lai giả” trong các nền Phật giáo. Theo quy chế của Bát kính pháp thì các Tăng sự Tự tứ, Tụng giới, Yết-ma, Thọ giới, Xuất gia… của chư Ni đều phải có chư Tăng chứng minh. Khi chư Ni lập một giáo hội độc lập thì các Tăng sự của Ni đều do chư Ni tự giải quyết, chẳng còn Bát kính pháp. Lịch sử Phật giáo có thể thừa nhận điều này chăng?

 

Còn Giáo hội Tăng-già Khất sĩ do Sư trưởng Minh Đăng Quang sáng lập, được các vị khất sĩ gọi tắt là Giáo hội chánh, lúc này vẫn có tính cách nội bộ, chưa có tư cách pháp lý, và tổ chức còn đơn giản theo đường lối Đức trị của đạo Phật cổ truyền: mọi việc được chư tỳ-kheo cùng bàn bạc. Trong tình hình phái Khất Sĩ phân hóa mạnh mẽ, ba vị thượng thủ của Giáo hội chánh là Thượng tọa Giác Chánh, Trưởng lão Giác Tánh và Tri sự Giác Như do Sư trưởng Minh Đăng Quang tấn phong năm 1953 đã không kiểm soát được tình hình, thì mọi việc tự nhiên tiến triển.

 

Đến giữa năm 1966, Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam được thành lập, trụ sở đặt tại Tịnh xá Trung Tâm, số 98, đường Nguyễn Trung Trực, Gia Định. Người chủ trương lập Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam là Pháp sư Giác Nhiên, trưởng một giáo đoàn Khất sĩ.

 

Tiếp tục, đến giữa năm 1971, Giáo hội Khất sĩ Việt Nam được đại đức Giác Huệ thành lập, trụ sở đặt tại Giảng đường Lộc Uyển ở Phú Lâm – Chợ Lớn. Sư Giác Huệ xuất gia năm 1955, là đệ tử của Pháp sư Giác Nhiên. Khi Pháp sư đi riêng lập đoàn thì tỳ-kheo Giác Huệ không theo thầy, mà theo Thượng tọa Giác Chánh làm một vị giảng sư, nổi tiếng.[8] Đến Tự tứ năm 1963 tại Tịnh xá Ngọc Giang – Long Xuyên, sư Giác Huệ cùng sư Giác Đức đệ tử ngài Minh Đăng Quang xin phép giáo hội đi lập đoàn… Về sau sư Giác Huệ làm việc cho khối Việt Nam Quốc Tự, được thượng tọa Tâm Châu Viện trưởng Viện Hóa đạo trợ giúp thành lập Giáo hội Khất sĩ Việt Nam. Và Trưởng Ni giới của giáo hội này là sư cô Tràng Liên ở Tịnh xá Ngọc Diệp…

 

Đến đây phái Khất Sĩ có một Giáo hội chánh nội bộ ở Vĩnh Long và 3 Giáo hội Khất sĩ được Bộ Nội vụ nước Việt Nam Cộng Hòa cho phép thành lập trong vòng 13 năm, từ 1958 đến 1971, trên một địa bàn là Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định. Sau đó cũng trong địa bàn này, các sư còn vận động thành lập Giáo hội Khất sĩ Ca-diếp do trưởng lão Từ Huệ đứng đầu nữa. Một dòng Đạo Phật Khất Sĩ có 5 giáo hội trên cùng một miền Nam Việt, tình hình không đơn giản! Đương thời tại Nam Việt, dòng Phật giáo Nam truyền có 2 giáo hội và dòng Phật giáo Bắc truyền có 6, 7 giáo hội. Như hiện nay phái Cao Đài Việt Nam có 10 giáo hội và phái Tin Lành Việt Nam có tới 12 giáo hội, nhà nước phải chấp nhận hết…

 

Khi còn là giáo đoàn Tăng hay đoàn Ni thì còn về sinh hoạt với Giáo hội chánh.[9] Còn khi đã thành giáo hội thì sao? Ta có thể đoán ra tình hình: bên Giáo hội Ni giới thôi không kể, chuyện đâu còn có đó; bên Giáo hội Khất sĩ thì đã thân với nhóm ngài Tâm Châu và 5 giáo đoàn Khất sĩ không thừa nhận; bên Giáo hội Tăng-già được xem là giáo hội của nhóm Pháp sư Giác Nhiên; còn Giáo hội chánh của Sư trưởng Minh Đăng Quang sáng lập lại chưa có tư cách pháp lý, cứ lặng lẽ im lìm. Dần dần mọi người thấy ra việc Pháp sư Giác Nhiên lập giáo hội là thiết thật, là việc chung, lấy đúng tên Giáo hội Tăng-già Khất sĩ của Sư trưởng Minh Đăng Quang hay dùng gắn thêm tên nước Việt Nam, đứng tên sáng lập giáo hội lại là 2 đại đức Giác Tường và Giác Nhu thuộc giáo đoàn của Thượng tọa Giác Chánh; nên các kỳ đại hội sau đó hàng trưởng lão của 5 giáo đoàn Khất sĩ đều tham dự, ngài Giác Tánh về làm Tăng chủ, còn 2 ngài Giác Chánh và Giác Như lo tu không muốn lãnh việc chúng nữa.

 

Theo Trung Giang Ký Sự số 17, năm 1964 ngài Giác Chánh nói: “Tôi già yếu rồi, quý sư làm được gì thì làm.”; còn ngài Giác Như tới năm 1972 nói: “Tôi mệt rồi, quý sư sắp xếp việc tri sự dùm.”… Đó là văn hóa từ chức để đàn em có đất dụng võ. Hai ngài đã không về, nếu lúc này ngài Giác Tánh không chịu về nữa thì mất hay.

 

Trong quyển Nguồn Gốc Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam của Thượng tọa Giác Lý, do Tịnh xá Trung Tâm – Phú Lâm ấn hành năm 1971, có nêu thông tin này: “Kỳ đại hội tại Hội sở Trung ương Tịnh xá Trung Tâm số 98 đường Nguyễn Trung Trực, Gia Định, điện thoại số 40420, tất cả 5 đoàn đều có về tham dự vào ngày 28 tháng 8 năm Tân Hợi 1971.[10]

 

1. Đoàn Thượng tọa Giác Chánh

 

2. Đoàn sư Trưởng lão Giác Tánh

 

3. Đoàn cố Trưởng lão Giác An

 

4. Đoàn Thượng tọa Thích Giác Nhiên

 

5. Đoàn đức Thầy Lý…”

 

Hai kỳ đại hội đầu của Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam đã không được sách nhắc đến. Tác giả quyển Nguồn Gốc Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam là thượng tọa Giác Lý, là người sáng lập một giáo đoàn Khất sĩ. Trong trích dẫn trên, tác giả dùng cách gọi “Đoàn Thượng tọa Giác Chánh” là chính xác. Bởi khi Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam phát triển thêm nhiều giáo đoàn thì nhóm các trưởng lão Giác Chánh – Giác Như – Giác Hải – Giác Trụ cũng phát triển thành một giáo đoàn[11]. Còn việc ngài Giác Chánh, Giác Như lãnh đạo Giáo hội chánh của tất cả các giáo đoàn lại là chuyện khác. Đừng lẫn lộn Đoàn Thượng tọa Giác Chánh với Giáo hội chánh. Trước đây mọi người ngộ nhận và đến tận bây giờ vẫn còn, khi nhắc tới vấn đề này, cứ nói Giáo đoàn I là Giáo hội chánh. Nếu nói vậy thì thời đó các sa-di, tập sự trong giáo đoàn này cũng có vai trò không nhỏ. Giáo hội chánh tức là giáo hội trung ương đó. Nếu xác định hàng lãnh đạo của Giáo hội chánh, thì dĩ nhiên sẽ là 3 vị do Sư trưởng Minh Đăng Quang tấn phong, cộng với tất cả các vị trưởng đoàn, trong đó có cả 2 sư cô Ngân Liên và Trí Liên, cộng với các vị tri sự nữa v.v…

 

 

 

http://anhnhiendang.com/Chi-Tiet-Dao-Phat/104/Nguon-Goc-Dao-Phat-Khat-Si-Viet-Nam.html

Quyển bên trang Đạo Phật Khất Sĩ đã bị sửa nội dung.

 

 

Trong khi đó, 2 sư cô Ngân Liên và Trí Liên đã đi riêng khỏi nhóm Ngọc Phương từ lâu, có phước duyên hình thành nên 2 đoàn Ni, vẫn tiếp tục gắn bó với Giáo hội chánh, và có duyên thân cận với bên Pháp sư Giác Nhiên. Khi các giáo đoàn hình thành và sinh hoạt độc lập rồi (từ Tự tứ 1963), ngài Thượng tọa Giác Chánh trở nên thờ ơ với vai trò đứng đầu Giáo hội chánh của mình, lo dẫn một nhóm Tăng đi mãi dưới các làng mạc heo hút, nên 2 sư cô phải theo Pháp sư. Đến khi Pháp sư thành lập giáo hội rồi, mặc nhiên 2 đoàn Ni giới Ngân Liên và Trí Liên trở thành 2 đoàn của giáo hội này. Dưới đây là giấy chứng nhận và con dấu Trưởng đoàn Ni giới của Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam cấp cho sư cô Trí Liên vào tháng 9 năm 1975:

 

 

 

 

 

 

Vai trò Trưởng đoàn Ni giới của 2 sư cô rất được mọi người trân trọng. Ví dụ sư cô Cung Liên ở Tây Ninh, khi muốn đắp y cho 2 đệ tử (ruột) Liên Vinh và Liên Châu cũng đều dẫn đệ tử về Ngọc Hiệp gởi, xin tập sự với sư cô Trí Liên một thời gian để sư cô xem xét tánh hạnh. Trước 1975 vị trí của 2 sư cô Ngân Liên và Trí Liên là 2 Trưởng đoàn Ni giới của một giáo hội, đầu tiên là Giáo hội chánh, sau là Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam.

 

Trong giai đoạn này sư cô Trí Liên không về Ngọc Viên Tự tứ nữa, chỉ mỗi năm ngày mùng 10 tháng 7 âm lịch tìm đến chỗ Thượng tọa Giác Chánh cúng dường y và thỉnh thoảng gởi tờ phúc trình cho Ngọc Viên thôi. Đến 1975 mới ngưng việc này. Đây là 2 tờ phúc trình của sư cô Trí Liên bảo đệ tử viết còn được giữ ở Tịnh xá Ngọc Hiệp lâu nay:

 

 

 

 

Hai tờ phúc trình này ghi ngày rằm tháng 7 âm lịch năm 1965 và mùng 10 tháng 7 âm lịch năm 1968, nguyên là 2 tờ nháp còn được giữ lại. Tờ 1965 có đoạn mở đầu như sau: “…Bạch Đại đức Thượng tọa, trong bốn năm qua Giáo hội không có Tự tứ nhóm họp Tăng Ni, cho nên con trò không biết làm sao sám hối…”.  Đoạn kế ghi: “Mô Phật, trong bốn năm qua con trò nhận xét về giới luật…” , mà kế trên chữ “bốn” được đính chính chữ “ba”. Điều này cho thấy đã 3 năm sư cô Trí Liên chưa về giáo hội Tự tứ do khách quan:

 

– Năm 1962 tại Gò Dầu chính quyền Ngô Đình Diệm lấy lý do biên giới không yên ổn để cản Tăng, Ni Khất Sĩ lên Tây Ninh, nên giáo hội không Tự tứ ở Ngọc Thạnh được, các giáo đoàn phải Tự tứ riêng.

 

– Năm 1963 xảy ra đảo chánh, chư Tăng các giáo đoàn không về Ngọc Giang – Long Xuyên được, chỉ có hàng lãnh đạo các giáo đoàn về, bên Ni đã bỏ không về. Lần đó đức Thượng tọa Giác Chánh đã tuyên bố do thời cuộc bất ổn nên các giáo đoàn sẽ sinh hoạt riêng từ đây.

 

– Năm 1964 thì các giáo đoàn đã sinh hoạt riêng rồi. Năm đó ngài Giác Chánh vẫn dẫn Tăng đi mãi, nên ở Ngọc Viên không có Tự tứ, chư Tăng đến tuổi không được thọ giới. (xem Trung Giang 17)

 

Đối với Tịnh xá Ngọc Phương thì sư cô Trí Liên vẫn trân trọng là trụ sở sinh hoạt của một số đông chư Ni tỷ muội. Dù bất đồng chí hướng, dù Ngọc Phương đã xóa tên Trí Liên khỏi danh sách chư Ni đệ tử Sư trưởng Minh Đăng Quang, nhưng tình nghĩa cùng thầy đồng đạo thì vẫn còn đó, nên mỗi khi sau Tự tứ sư cô Trí Liên đều qua thăm Ngọc Phương và gởi tờ phúc trình. Nghe kể theo thủ tục của nhà Khất Sĩ, khi về Ngọc Phương sư cô Trí Liên đều đảnh lễ sư cô Huỳnh Liên. Có lẽ lúc này sư cô Trí Liên vẫn không biết Sư trưởng Minh Đăng Quang chỉ chứng minh cho sư cô Huỳnh Liên là tỳ-kheo Ni 1951[12], một lớp với sư cô Trí và mấy sư cô lớn khác, lại sau sư cô Ngân Liên.

 

Bản thân các thầy trò thì về Tịnh xá Trung Tâm Tự tứ, còn Ngọc Viên và Ngọc Phương thì đi thăm rồi gởi phúc trình sám hối trước sau Tự tứ, đây là cách xử sự tế nhị của sư cô Trí Liên, qua đó cũng thấy được tình hình nội bộ phái Khất Sĩ giai đoạn cuối thập niên 1960.

 

Từ khi lập được Ngọc Hiệp và có đông đệ tử rồi, mỗi năm sư cô Trí Liên đều tổ chức nhập Hạ an cư tại Ngọc Hiệp. Thời khóa sinh hoạt là: sáng tu thiền – điểm tâm – tụng Chơn Lý nửa quyển và thêm 1 bài kệ trong 49 bài – thầy giảng 15, 20 phút – khất thực – cúng ngọ – nghỉ – tụng Luật 5 trang, quyển Sa-di Luật Giải hoặc Quy Sơn Cảnh Sách, và thêm 1 bài kệ – thầy giảng – tu thiền…

 

Trong thời gian nhập Hạ, ngoài thời khóa tu học chư Ni đều tập trung may nhiều bộ tam y và túi bát. Chư Ni mượn 5, 7 máy may của Phật tử đem về tịnh xá, vải cũ vải mới được cúng đem ra, người cắt, người may. Số bộ cần may phải đủ cho chư Ni trong đoàn, và để mang cúng dường cho Ngọc Viên cùng Trung Tâm (từ 1965). Y thượng bá nạp may 2 đường, đường đầu may máy cho chắc, đường sau may tay ép cho đẹp(?), nên may được 1 y thượng rất lâu. May y và túi bát xong phải giặt, nhuộm, ủi rồi xếp vô bị. May tới cuối tháng 6 thì lo nhuộm. Nhuộm bằng thuốc bột, quấy vô tô, đổ vô nồi nước sôi, đổ thêm dầu lửa, cho đồ vào, lấy đũa bếp nhúng… Ngày mùng 9 tháng 7 chư Ni các tịnh xá trong đoàn tập trung về Ngọc Hiệp. Chư Ni xếp y để vô bị, ghi tên từng người, vị nào thọ giới được bộ tam y, các vị khác được y thượng. Rồi mang hết lên chánh điện, sắp lên bên hông tháp thờ Phật. Thầy trò lên chánh điện lễ Phật, đọc Xưng tụng Tam Bảo và Tán tụng công đức Giáo chủ, sau đó sư cô Trí Liên ngồi giáo giới rồi phát y cho các đệ tử, đệ tôn. Hôm sau mùng 10 mang 5 bộ tam y và túi bát về miền Tây tìm Tăng đoàn của Thượng tọa Giác Chánh cúng dường, có khi ở tỉnh này, có khi ở tỉnh khác. Khi đi đến chỗ Tăng sư phải đi 4 Ni cô. Đi xa lại có thêm một cư sĩ nữ đi theo để giữ tiền, vì các Ni cô không được rớ đến tiền. Khi đến nơi, cư sĩ đó còn giúp vào xin phép trước, chứ các Ni cô không được tự tiện vào chỗ Tăng sư.[13]

 

Ngày 13 về Tịnh xá Trung Tâm. Thầy trò sư cô Trí Liên nghỉ bên ngoài tịnh xá, chỗ Tuệ Tĩnh đường hoặc sau đài Quan Âm bây giờ. Chư Ni được che nhà tạm dưới vườn cây, lót ván nghỉ. Mấy chục người đều tập trung một chỗ, thầy nằm ngay chỗ cửa, ai muốn đi vệ sinh cũng phải xin phép, đi 2 người.

 

Về sự hành đạo hàng ngày thì sư cô Trí Liên và các đệ tử đều áp dụng Trú dạ lục thời: sáng dậy tu thiền, 8 giờ đi bát, trưa cúng ngọ, chiều học Chơn Lý hoặc học Luật, tối và khuya tu thiền. Mấy lần tôi hỏi quý Ni trưởng, Ni sư đệ tử Ni trưởng Trí Liên rằng thầy họ dạy tu thiền như thế nào thì quý vị đều cười không nói. Đến khi gặp Ni sư Khoa Liên tôi cũng hỏi câu đó, Ni sư buột miệng nói: “Có chớ.” – “Ni trưởng Trí Liên dạy pháp gì?” – “Có 7 pháp.” – “Ni sư nói một pháp xem.”, đến đây Ni sư cũng cười cười không nói. Thôi chuyện bí mật của nhà người ta, tôi không hỏi nữa. Nhưng rồi sau đó qua điện thoại Ni sư Khoa Liên trùng tuyên cho tôi nghe một lời thường dạy của thầy mình: “Đường xa ngàn dặm nhờ bước ban đầu, cây lớn một vầng do nhân ương mầm mộng. Bước ban đầu không cố gắng, đường ngàn dặm khó đến nơi. Mầm mộng không ương gieo, cây lớn một vầng đâu lẽ có?”

 

Còn Ni sư Tuyết Liên thì lại kể mỗi năm dịp tết thầy ngồi thiền cả ngày dưới cây trâm cổ thụ trong Tịnh xá Ngọc Hiệp, không ăn không uống, và trùng tuyên lời này: “Các con không được sơ thất Bát kính pháp. Bây giờ thầy còn hay sau này thầy mất cũng vậy, việc gì cũng phải y chỉ nơi chư Tăng, xin sự chỉ dạy chứ không được tự ý.”.

 

Trong một năm sư cô Trí Liên lại tổ chức vài ba tháng ăn cơm như thời Tổ: đọc một câu đại nguyện rồi ăn một muỗng. Lâu lâu sư cô Trí Liên lại tổ chức ăn cơm trộn suốt 1, 2 tuần: xôi, chè, cơm, bánh, rau luộc… trộn hết vô bát múc ăn. Có Ni cô mới ăn lần đầu bị ói ra. (Như thế người ta sợ Khất Sĩ là đúng rồi. Trong Chơn Lý Tổ đã dạy: canh dùng sau, bánh trái dùng sau; đâu có trộn tới mức đó.)

 

Một tháng 4 ngày cúng hội theo Giáo pháp Khất sĩ, ngày rằm sư cô Trí Liên ở Ngọc Hiệp, mùng 8 ở Ngọc Phú, 23 và 30 tùy duyên, có khi 23 ở Tân Bửu Tháp, 30 ở Ngọc Thành…

 

Thỉnh thoảng sư cô Trí Liên lại gom hết sa-di, tập sự trong đoàn về, dẫn đến tịnh xá này một tuần, tịnh xá kia một tuần, để dạy đạo hạnh, dạy tu. Chỉ ở tịnh xá thôi, không đi bát, chú trọng học bài vở, phải trả bài mỗi ngày. Mỗi lần đi mấy tịnh xá, đích thân sư cô Trí dẫn chúng.

 

Khi còn thầy, mỗi tháng chư Ni trong đoàn lại tập trung về Ngọc Hiệp ngày mùng 1 và ngày 16 để đọc giới, sám hối, nghe thầy giáo giới. Sáng về, chiều đi, như vậy cứ nửa tháng huynh đệ lại họp mặt một lần bên thầy. Hiện nay chư Ni trong đoàn một năm tập trung về Ngọc Hiệp 4 lần: 20 tháng giêng, lần kế trong Hạ, 28/8 giỗ thầy và một lần trong tháng 10.

 

 

 

Nhớ về kỷ niệm ngày nào

Quây quần bên gối đẹp sao những ngày!

 

(Bà cụ ngồi đưa 2 đầu gối ra 2 bên đó…)

 

 

Năm 1969 cất Tịnh xá Ngọc Phú xong thì sư cô Trí Liên đã 68 tuổi. Ngẫm mình tuổi đã cao, rồi nay mai cũng phải trở về theo lẽ Sanh ký tử quy, sư cô nghĩ đến việc làm một ngôi tháp phổ đồng để cho tất cả các thầy trò trong đoàn có chỗ gởi nắm tro tàn khi ra đi.[14] Bấy giờ sư cô nhắm hướng Thủ Đức, phía bên ngoài Pháp viện Minh Đăng Quang nữa, để đi tìm đất. (Mặc dù Pháp sư có gợi ý nên tìm đất phía đối diện Pháp viện.) Được ông bà Nguyễn Văn Tụi phát tâm cúng dường hơn 1000 mét đất (nay còn 1100m2), sư cô Trí khởi công cất tháp. Ý tưởng của sư cô là cất một chánh điện bát giác bình thường, rồi khi làm pháp tháp bên trong sẽ chế thành tháp phổ đồng, bằng cách: phần tháp bên trên vẫn như mọi nơi, nhưng thờ 4 tượng Phật nhỏ ở 4 cửa; còn chân tháp có 3 cấp sẽ làm to ra, dùng làm nơi để hủ cốt cho chư Ni. Phần cốt chư Ni sẽ được đặt trong bát đất nhỏ, hình thức như bình bát nhưng nhỉnh hơn thố canh. Tro cốt chỉ lấy một nắm, còn bao nhiêu rải hết xuống sông. Đến khi nào phần tro cốt trong bát bay hết thì sẽ dùng bát đó đựng tro cốt cô khác…

 

Làm xong rồi, ngày khánh thành Pháp sư đến nói: “Tịnh xá như vầy không để hành đạo mà xây tháp làm gì!”. Rồi Pháp sư Giác Nhiên yêu cầu dời 4 tượng Phật nhỏ, ngài đi thỉnh một tượng Phật lớn đem về an vị vào tháp, khánh thành tịnh xá, đặt tên là Ngọc Vân. (Tịnh xá này có 3 cấp chân pháp tháp trong chánh điện rất to.) Sư cô Trí Liên bấy giờ phải tuân hành theo lời Pháp sư mà vẫn còn muốn làm tháp phổ đồng. Rút kinh nghiệm, lần tới sư cô sẽ không chế pháp tháp giữa chánh điện thành tháp phổ đồng nữa.

 

Chuyện sống chết tạm gác qua, sư cô Trí Liên lập đoàn du Tăng đi hành đạo đã. Sư cô dẫn mười mấy đệ tử đệ tôn đi các nơi hơn 1 tháng mới về. Có khi từ Ngọc Hiệp đi lần lên Tây Ninh, rồi đi ngược về Ngọc Hiệp, tiếp tục đi lần xuống Châu Đốc, vô tới núi Đất thăm trưởng lão Giác Nhơn lại quay ra… Đi xe, chỗ gần thì đi bộ. Rồi ghé tịnh xá nghỉ, cũng có chỗ ghé chùa xin nghỉ, lúc ở Gò Dầu có nghỉ tại nhà Phật tử. Khi đi có 4 cô Phật tử theo hộ pháp. Chương trình mỗi ngày là sáng đi khất thực, rồi độ cơm dọc đường, tìm chỗ mát mẻ nghỉ và ngồi thiền, xế về tịnh xá học Chơn Lý, tu thiền… Ngày ăn một bữa, nhưng nếu sáng có ai hộ thì dùng một chút, (chiều lấy nước rửa cái bao tử).

 

 

 

Chư Ni đi khất thực hóa duyên trên đường phố Sài Gòn

 

 

Lần đi năm 1971, khi ở Vĩnh Long đoàn có ghé Tịnh xá Pháp Vân ở 3 đêm. Từ sau khi Tổ sư vắng bóng, Pháp Vân không có Tăng, Ni ở, mà do bà Chín em ruột ông Nguyễn Tồn Hiếu trông coi. Tịnh xá chỉ có chánh điện tứ giác hai tầng mái, với một cái nhà dưới và thêm chút đất, 4 mặt đều bị lấn sát. Trong tịnh xá còn một cái giường của Tổ, một bức tranh bằng vải bố treo trên vách do Tổ bảo thợ vẽ cảnh như trong bài Ánh Sáng, và một pho tượng Phật của Tổ. Bà Chín kể với chư Ni về pho tượng Phật nhỏ của Tổ còn thờ ở tịnh xá: Tổ đi đâu hành đạo cũng bỏ tượng này vào bát mang theo, khi ngồi trên đất thuyết pháp thì đem tượng Phật đặt trên bát để trước mặt ngài. Tượng Phật Thích-ca giống như bằng thủy tinh, màu nâu nâu như chai bia. (Đến khoảng năm 1994, sư cô Tuyết và sư cô Khoa ghé lại nơi đây có ý định xin trùng tu Tịnh xá Pháp Vân thì bà Chín đã mất, tịnh xá cũng đã bị giở bỏ trước đó 3, 4 năm. Người cháu ngoại tiếc cho 2 sư cô đến trễ, và trao cho 2 sư cô tượng Phật nói trên với 2 tượng nhỏ nữa, bằng đồng, không rõ tượng gì, nói là do bà ngoại mang ở Pháp Vân về. Sư cô Tuyết mang về Ngọc Hiệp, riêng tượng thủy tinh đưa về Mộc Chơn thờ. Về sau Ni sư Tuyết đưa tượng thủy tinh cho thượng tọa Minh Hóa để triển lãm, rồi thượng tọa nói đã bị thất lạc…)

 

Năm 1972 Ni sư Trí Liên bị tai nạn tổn thương đầu, bể xương bả vai, gãy 1 tay, nằm một chỗ suốt 1 năm. Khi đứng dậy đi được Ni sư liền lo đi tìm đất cất tháp. Ni sư có ý đặt tên tháp là Tân Bửu, để kỷ niệm ngôi tịnh xá Tân Bửu ngày trước. Ni sư Trí Liên đi không biết bao lần, cuối cùng chỗ ngã ba Tân Trụ (), thị xã Tân An, đã tìm được ít đất. Ni sư liền khởi công làm tịnh xá, chánh điện bát giác cất rộng có 6m, phía sau làm một cái tháp tứ giác cao hơn 3m, gồm 3 tầng, bên ngoài có một cái đình che tháp. Tháp xây kín 4 mặt, ở mỗi tầng chừa chu vi rộng khoảng 4 tấc để có chỗ đặt bát tro cốt quanh tháp.

 

 

 

 

Tháp Tân Bửu, ngôi tháp đặc biệt vì

thể hiện ý chí và tâm đức hòa hiệp của đoàn Ni giới Trí Liên.

(Chụp ngược sát chân để lấy 3 tầng và chụp mặt sau lấy toàn cảnh vì mặt trước bị áng bàn thờ NT. Trí Liên. Theo tinh thần của tháp Tân Bửu thì bàn thờ cá nhân không được để.)

 

 

 

Cận cảnh 1 tầng tháp. Chữ N cuối cùng bị ngược.

 

 

Ngày khánh thành Tịnh xá Tân Bửu Tháp, Pháp sư Giác Nhiên và chư tôn đức Tăng về chứng minh, Pháp sư thấy đường vào chật hẹp, chỉ cỡ một bờ ruộng, nên đã ngoại giao mua được cho 5m đường đi vào tịnh xá.

 

Lúc mua được một máy cat-set băng nhựa nhỏ, Ni sư Trí Liên dẫn sư cô Tuyết đem máy đi Tân An, đến nhà bà Hoa – ông Khánh Thành. Hai ông bà nguyên là đệ tử hộ pháp của Tổ sư, ngày trước trúng số độc đắc đã mua cúng dường Tổ một chiếc xe để đi hành đạo (chính là chiếc xe rờ-nôn-tôn-tư biển số NCA 704). Hồi đó Tổ sư thuyết pháp hay đọc kinh là bà Hoa lấy máy đĩa thu, loại đĩa to ngày xưa. Bà nói với 2 thầy trò là bà có nhiều đĩa thu tiếng Tổ mà bị thất lạc đâu hết, bây giờ chỉ còn một đĩa nhưng bị gián đoạn 2 chỗ, chỉ còn đoạn đầu với đoạn giữa. Thôi 2 thầy trò cũng xin được thu âm lại đĩa hư đó, có nhiều tiếng rè rè… (xem: http://anhnhiendang.com/Chi-Tiet-Thu-Vien-Media/124/Ky-Niem-Giong-Doc-Ke-Cua-To-Su-Minh-Dang-Quang.html) Cuối đời bà Hoa xuất gia ở Tịnh xá Ngọc Tâm.

 

Năm 1980, Tịnh xá Trung Tâm khởi công trùng tu thì có nhiều ý kiến bàn ra, e là không làm được vì thời buổi kinh tế Việt Nam khó khăn… Khi đại đức Giác Toàn hỏi ý kiến, Ni trưởng Trí Liên đáp: “Sư làm được thì cứ cố gắng làm. Riêng trò, với tinh thần đóng góp thì sư xem như là muỗng dầu của bà lão ăn mày.”. Thế rồi sẵn dịp mỗi ngày không đi khất thực được, Ni trưởng Trí Liên bảo các đệ tử xin cọng bàng của dân gần đó về, rồi thầy trò ngồi đan giỏ, nhờ người đem bán, lấy tiền bỏ ống. Đến giỗ Tổ hoặc Tự tứ lại rút ống đem tiền về Trung Tâm đóng góp xây dựng. Thầy trò làm vậy suốt 4 năm, cho đến khi tịnh xá trùng tu chánh điện, giảng đường, đài Quan Âm và một dãy nhà Tăng kế đài Quan Âm xong.

 

Ngày 29 tháng 8 năm Giáp Tý 1984,[15] Phật tử về Tịnh xá Ngọc Hiệp cúng hội, đến đảnh lễ vấn an Ni trưởng Trí Liên, Ni trưởng còn nhắc nhở khuyên Phật tử tinh tấn, thế mà 22 giờ cùng ngày Ni trưởng Trí Liên đã tạ thế. Ôi,

 

Áo quan nay phủ kín rồi

Còn đâu sư nữ miệng cười từ bi!

Từ ngày tiễn bước thầy đi

Lòng nghe buốt giá như khi đông về.

Thầy ơi nơi chốn sông mê

Vắng thầy con trẻ đi về làm sao!

Nhớ về kỷ niệm ngày nào

Quây quần bên gối đẹp sao những ngày!

Giờ đây, trước cảnh lá lay

Mượn dòng thơ mọn giải bày tâm tư...

 

(Trích Tâm Hương Tưởng Niệm)

 

Khóc thầy, nước mắt của các nữ đệ tử thân cận đã cuốn trôi mất khí khái của bậc Ni lưu xuất trần ly vọng. Nhưng cũng có những đoạn thơ tưởng nhớ thầy tích cực hơn:

 

Thầy tiếp độ con qua biển khổ

Về tịnh đàng có chỗ nương thân

Ăn thời pháp lạc lý chân

Mặc thời giới pháp luật răn quy điều

Còn trang sức nhiều châu báu lạ

Tín, tấn, văn, từ, xả, khinh an

Bây giờ con thật giàu sang

Nhà xưa trở lại an nhàn tấm thân!

 

(TríchTâm Hương Tưởng Niệm)

 

Trong 83 năm trụ thế, 47 năm sống với duyên nợ đời như có như không, 36 năm cuối cố Ni trưởng Trí Liên đã dấn thân trên cõi Đạo theo gót đức Minh Đăng Quang, lập được một đoàn Ni giới Khất sĩ tại miền Nam Việt như không như có. Ai hay một bà nhà quê không biết chữ lại phát tâm cao thượng và làm được biết bao việc hữu ích cho đạo pháp!

 

Tang lễ cố Ni trưởng được chư Tăng, Ni Giáo đoàn IV tổ chức trọng thể tại Tịnh xá Ngọc Hiệp. Về chứng minh và đưa tiễn cố Ni trưởng có thượng tọa Giác Tường, Giác Nhu và chư tôn đức Tăng, Ni… Nhục thân cố Ni trưởng được hỏa thiêu ở chùa Pháp Bảo, thành phố Mỹ Tho. Thiêu xong, theo đúng ý nguyện của cố Ni trưởng, các đệ tử hốt một nắm tro nhục thân thầy bỏ vô cái bát nhỏ, đậy nắp tạm, đem về đặt tại tháp Tân Bửu, để gió cuốn đi... Tất cả tro cốt còn lại của cố Ni trưởng được đem về tịnh xá, trộn với cơm nếp rải xuống sông cho cá ăn.

 

Tưởng nhớ cố Ni trưởng, đại đức Giác Toàn làm điếu văn, Ni sư Cung Liên, Vĩnh Liên làm văn tế, thi điếu… gởi về Ngọc Hiệp. Sa-môn Giác Ngỡi ở Origon, nước Mỹ, đã gởi thơ xưng tán công đức của Ni trưởng Trí Liên khi hay tin bà cụ mất, trong đó có khổ cuối khoán thủ thành “Trí Liên bất diệt”, như là ca ngợi một nữ Thánh:

 

Kính chúc Ni sư đạo nghiệp thành

Ngàn năm công đức đáng nêu danh

Ta-bà trí huệ xuôi dòng pháp

Cực Lạc vô ưu rộ tỏa cành.

 

Gương sáng muôn đời bậc nữ nhi

Xả thân cầu đạo, dạ từ bi

Cam lồ nhuần gội toàn sanh chúng

Ngọc báu, kim cang há sánh bì.

 

Trí huệ vượt ngoài pháp giới không

Liên hoa ngào ngạt cõi trần hồng

Bất sanh hữu tướng cùng vô tướng

Diệt độ bản lai tổng thị không.

 

(Trích Tâm Hương Tưởng Niệm)

 

 

 

Tượng Ni trưởng Trí Liên tôn trí tại TX. Ngọc Hiệp, chất liệu nhựa tổng hợp,

làm tại Thailand năm 2013.

(Y thượng may bằng nguyên tấm vải nên không giống y vá ngày trước. Vải quá tốt cũng không giống đương thời Ni trưởng hành đạo.)

 

 

Tìm hiểu về Ni trưởng Trí Liên và đoàn Ni giới Khất sĩ do bà sáng lập, đến đây có thể nhận định một số điều như sau:

 

Ni trưởng Trí Liên là một tỳ-kheo Ni mẫu mực của nhà Phật. Ni trưởng Trí Liên được Tổ sư Minh Đăng Quang chứng minh cho xuất gia cuối năm 1948, thọ tỳ-kheo Ni rằm tháng 7 năm 1951, một lớp với các vị Huỳnh Liên, Bạch Liên, Thanh Liên. Năm 1952, Ni trưởng Trí Liên mãn phần, được Tổ sư đổi số cứu sống lại để hoàn thành đạo nghiệp.

 

Trong hoàn cảnh Tổ sư đi sớm, các Tăng, Ni đệ tử Tổ sư phải tự lực cánh sinh, phải phấn đấu để tồn tại và phát triển. Trong hoàn cảnh đó Ni trưởng Trí Liên lại tiếp tục làm việc mà Tổ sư thường bảo Ni trưởng làm là đi các nơi mở đạo. Dưới sự chứng minh và gia hộ mầu nhiệm của Tổ sư, từ năm 1956 Ni trưởng Trí Liên đã lần lượt lập được thêm 8 tịnh xá là Ngọc Truyền, Ngọc Hiệp, Ngọc Lâm, Ngọc Trung, Ngọc Thành, Ngọc Phú, Ngọc Vân và Tân Bửu Tháp. Lập được tịnh xá và quan trọng là thâu nhận được nhiều người xuất gia, từ đó hội chúng hình thành, được người đương thời gọi là Đoàn sư cô Trí. (Thế thì bên trong là Tổ sư định hướng, rồi đặt các đệ tử vào tình thế phải phát triển để tồn tại, bên ngoài là sư cô Trí Liên cố gắng thi hành phận sự, sau kết quả hiển nhiên được mọi người thừa nhận.)

 

Đặc biệt từ trước khi xuất gia, năm 1948 Ni trưởng Trí Liên và các bạn đã thành lập một ngôi tịnh xá đơn sơ tại Thủ Thừa, dâng cúng lên đại đức Minh Đăng Quang, được ngài chứng minh đặt tên là Tịnh xá Tân Bửu. Do cơ duyên này ngài Minh Đăng Quang đã về Thủ Thừa hành đạo, từ đó tiếp độ được 6 đệ tử lớn là sư Giác Tánh và các sư cô Chơn Liên, Quang Liên, Tạng Liên, Trí Liên và Đức Liên. Tuy Tịnh xá Tân Bửu chỉ tồn tại được mấy năm, nhưng sẽ được lịch sử ghi nhận là ngôi tịnh xá đầu tiên của Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam, trước khi dòng đạo này về Vĩnh Long cất các tịnh xá Pháp Vân, Trúc Viên (Vườn Tre) và Ngọc Viên... (Nếu tính chung về thứ tự các cơ sở của Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam, không phân biệt là tịnh xá hay là chùa, tự, thì cơ sở đầu tiên là Ngọc Lâm Tự ở Phú Lâm – Chợ Lớn có từ đầu năm 1947 và tồn tại hơn 6 năm, cơ sở thứ hai là chùa Ngọc Sơn ở Bến Bình Đông – Chợ Lớn được cư sĩ Ngô Văn Hợi thành lập từ năm 1941 và dâng cúng cho ngài Minh Đăng Quang vào năm 1948, cơ sở thứ 3 là Tịnh xá Tân Bửu ở Thủ Thừa lập năm 1948…)

 

Ni trưởng Trí Liên là một bậc tiền bối hữu công và khả kính của Đạo Phật Khất Sĩ. Tánh cách của Ni trưởng Trí Liên rất có lập trường và nghị lực nhưng mềm mỏng hòa đồng chứ không quyết liệt như Ni trưởng Ngân Liên. Hai vị sinh vào đạo trong thời buổi thành lập, lấy giới đức và nhân duyên làm gốc để đi các nơi lập tịnh xá đạo tràng và hội chúng cho giáo hội. Ni giới Khất Sĩ Giáo đoàn IV, III và I phần lớn đều từ hai Ni trưởng mà ra. Công đức lớn lao kiến lập tịnh xá đạo tràng và tiếp Tăng độ chúng của nhị vị Ni trưởng mãi mãi được hậu thế trân trọng.

 

Đoàn Ni giới Khất Sĩ Trí Liên hiện nay là một đoàn thể chơn tu thật học, thuộc Giáo đoàn IV Hệ phái Khất Sĩ. Đoàn hiện có 16 cơ sở và khoảng 100 Ni. 16 cơ sở gồm có:

 

– 9 tịnh xá do Ni trưởng Trí Liên thành lập, trừ ra Tân Bửu, Ngọc Truyền và Ngọc Trung là còn 6 ngôi;

 

– 4 tịnh xá do Pháp sư Giác Nhiên cho là Ngọc Tân – Tân Hiệp, Ngọc Ẩn – Tầm Vu, Ngọc Quang – quận 8, và Ngọc Thành – Phú Giáo đã chuyển thành chùa, là còn 3 ngôi;

 

– Tịnh xá Mộc Chơn – Phú Mỹ do Phật tử Phú Mỹ cúng;

 

– 6 tịnh xá, tịnh thất do người sau thành lập: Ngọc Phúc – Rạch Giá, Ngọc Bảo – Bảo Lộc, Hoa Nghiêm – Cần Thơ, Ngọc Linh – Cần Thơ, Ngọc Đức – Trà Võ (Tây Ninh), và chỗ sư cô Duyên Liên.

 

Bài 32 và 35 khi viết đã tạm dùng danh xưng Đoàn Ni giới Khất Sĩ Ngân Liên và Đoàn Ni giới Khất Sĩ Trí Liên như cách gọi ngày trước để viết cho dễ hiểu, chứ hiện nay các vị ấy là một, đều là Ni giới Giáo đoàn IV. Ban Quản chúng Ni giới Giáo đoàn IV nhiệm kỳ từ đầu năm 2016 do Ni trưởng Mai Liên làm Trưởng ban, Ni sư Tuyết Liên làm Phó thường trực, Ni sư Hạnh Liên (Tây Ninh) làm Chánh Thư ký, sư cô Phấn Liên làm Chánh văn phòng… với số Ni chúng gần 300 vị.

 

*****

 

Trong các đệ tử Ni trưởng Trí Liên có một Ni sư tu hành đắc lực, đó là Ni sư Nhơn Liên.

 

 

 

2 sư cô Nhơn Liên và Vạn Liên lưu ảnh kỷ niệm tại thác Cam Ly – Đà Lạt

 

 

Ni sư Nhơn Liên thế danh Nguyễn Thị Cận, sinh năm 1915, mãn duyên năm 2007, trụ thế 92 năm, Hạ lạp 33 năm. Cha mẹ Ni sư là ông Nguyễn Văn Phát và bà Kiều Thị Thu, làm nghề nông, sống tại làng Tân Lý Đông, tổng Hưng Nhơn, quận Bến Tranh, tỉnh Mỹ Tho. (Nơi đây, thời nhà Nguyễn là tỉnh Định Tường, thời Pháp là tỉnh Mỹ Tho, thời Ngụy lại là Định Tường, thời nay là tỉnh Tiền Giang.)

 

Từ nhỏ cô bé Cận đã muốn được đi tu theo Phật nhưng không biết làm sao. Đến lứa tuổi thành niên, cô trốn nhà ra Tân An vào một ngôi chùa xin làm công quả suốt mấy tháng. Cô chưa được nhà chùa cho thế phát thì đã bị gia đình tìm được, bắt về lại. Từ đó mộng tu hành đành phải dở dang…

 

Năm 20 tuổi Nguyễn Thị Cận lập gia đình với Lê Văn Dần là một nông dân cùng làng, sinh hạ được 9 người con. Kế bên nhà cô là chùa Linh Bửu Tự, do chồng cô tạm trông coi. Nguyên Linh Bửu Tự này do một ông cụ cải gia vị tự cho bà con địa phương có chỗ đến lạy Phật. Sau chùa thuộc về Chơn Đức thiền viện ở Bà Chiểu, Gia Định (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Năm 1946, khi mới sinh người con thứ 5 mấy ngày thì nghe nói có ông thầy còn trẻ, tướng mạo đẹp lắm, về Linh Bửu giảng đạo rất hay. Nhà chỉ cách chùa có 3, 4 chục mét, hay tin cô muốn đến nghe pháp mà không có ai giữ con giúp, nên chỉ rán bước đến đứng phía sau mọi người ngó nhà sư Minh Đăng Quang một cái rồi về. Đó là nhân duyên ban đầu của cô đối với đạo Khất Sĩ.

 

Năm 1947 thân mẫu qua đời, cô phát nguyện ăn chay 6 ngày mỗi tháng để đem công đức báo hiếu cho mẹ. Năm 1952 hai vợ chồng lên chùa Linh Sơn, quận I, Sài Gòn, gặp thiền sư Từ Quang xin quy y Tam Bảo, chồng được pháp danh là Thiện Quảng, vợ là Diệu Chánh[16]. Đến năm 1957 thân phụ qua đời, cô lại phát tâm trường chay để báo hiếu song thân. Vài năm sau được gặp ông Đạo Dừa khuyến tu, cô càng cố gắng, đồng thời bắt tất cả các con phải trường chay và tụng kinh Phật mỗi đêm, kể cả con dâu và con rễ, cho đến đám giỗ trong nhà cũng đều cúng chay.

 

Năm 1961 các thầy trò sư cô Trí Liên về miếu Trung Nghĩa Thần ở làng Tân Lý Tây kế bên mở đạo, được Ban Khánh tiết cúng đất lập ra Tịnh xá Ngọc Hiệp. Bà Diệu Chánh đi chợ qua lại tịnh xá mỗi ngày, thấy cảnh các sư cô Khất Sĩ khổ hạnh, bóng y vàng gieo vào lòng bà một sự cảm mến, từ đó lý tưởng giải thoát lại trỗi dậy, bà tìm cách sắp xếp để đi tu. Một mặt bà tới lui tịnh xá cúng dường và công quả, gieo duyên với quý sư cô, tập tu Bát quan trai giới; đồng thời bà lại cho cô con út qua ở với các anh chị lớn, dụng ý để đi cho dễ…

 

Bà Diệu Chánh không biết chữ, nên xin Chơn Lý của Sư trưởng Minh Đăng Quang mang về nhà, mỗi đêm cả nhà cơm nước xong bà lại bảo thằng Tám, thằng Chín thay nhau đọcChơn Lý cho nghe. Khi con đọc, bên ánh đèn dầu bà lấy tay dò theo từng chữ, dần dần bà cũng biết đọc, cho đến khi đi tu bà đã trì được Kinh Pháp HoaChú Đại Bi!

 

Năm 1965 thằng Tám con bà theo Pháp sư Giác Nhiên xuất gia, pháp danh là Huệ Minh (sau đắp y đổi pháp danh là Giác Nguyệt). Đầu năm 1966, duyên đạo đã thấm nhuần, bà bàn với ông chuyện đi xuất gia học đạo. Lúc đầu ông không đồng ý để bà đi, nhưng do bà cương quyết quá nên ông chịu, với điều kiện là ông cũng đi tu nữa. Rằm tháng giêng bà Diệu Chánh theo sư cô Trí Liên xuất gia tại Tịnh xá Ngọc Hiệp, pháp danh là Liên Nhơn. (Đến Tự tứ năm đó cô Liên Nhơn được thọ giới Sa-di Ni tại Tịnh xá Ngọc Vân – Trà Vinh, và 8 năm sau thì được thọ giới Tỳ-kheo Ni tại Tịnh xá Trung Tâm – Gò Vấp.) Sau đó thằng Chín cũng đi theo anh, pháp danh là Huệ Trí. Còn ông Thiện Quảng cũng trong năm đó lên Chơn Đức thiền viện xuất gia theo thiền sư Từ Quang, xong thầy bảo ông lại về quản lý Linh Bửu Tự. Về quê, ông đã sửa nhà thành một tịnh thất. Đến năm 1974 ông đang đi ngoài đường thì bị tai nạn chết.

 

Năm 1967 cô Liên Nhơn dẫn con gái út 11 tuổi theo đi tu, pháp danh là tiểu Hoa (nay là Ni sư Tuyết Liên). Rồi cháu ngoại, cháu nội, cháu gọi bằng cô cũng theo gương cô Liên Nhơn đi xuất gia… Và những người con cháu còn ở nhà đều quy y Tam Bảo, làm Phật tử thuần thành cả.

 

Tuổi ngũ tuần mới thế phát làm Ni, đường đời từng trải đã trui rèn cho sư cô Nhơn Liên tánh kiên định, nhẫn nại. Với hảo tâm xuất gia, sư cô chuyên cần công quả, hòa kính khi nhập chúng, và gắng công tu luyện tâm tánh. Sư cô gắn bó nhiều với Tịnh xá Ngọc Hiệp, chỉ có về Ngọc Ẩn – Tầm Vu mấy tháng năm 1981, và năm 1982 về Ngọc Tân – Tân Hiệp gần đó trụ trì 2 năm sau khi tịnh xá bị bỏ hoang hơn 4 năm. Đến đầu năm 1984 sư cô Nhơn Liên về Ngọc Hiệp chăm sóc cho bổn sư. Cuối tháng 9 năm đó thầy tịch, sư cô được bổ nhiệm trụ trì Ngọc Hiệp cho đến cuối đời.

 

Trụ trì Tổ đình của đoàn, Ni sư Nhơn Liên vẫn có tác phong làm nhiều, nói ít, đem thân giáo làm gương cho người, và cùng với các chị em gìn giữ những nề nếp do thầy đã tạo ra. Năm 1990 Ni sư khởi công trùng tu chánh điện và nhà thờ linh, sau 8 tháng công trình hoàn thành cũng là lúc Ni sư bị bệnh nặng. Sau cơn bạo bệnh đó Ni sư phát tâm tinh tấn hành đạo, mỗi ngày trì Kinh Pháp Hoa và khoảng trăm biến Đại Bi, lấy đó làm năng lực độ tận chúng sanh trong tâm.

 

 

 

Chánh điện TX. Ngọc Hiệp do Ni sư Nhơn Liên đứng ra trùng tu năm 1990.

 

 

Năm 1996, nhận thấy chốn Tổ đình cần phải có nhà thờ vị Trưởng đoàn, Ni sư đã khởi công xây nhà thờ Ni trưởng Trí Liên. Từ đây việc xây dựng trong tịnh xá tạm xong, Ni sư gia công tu hành cẩn mật, ít chú ý đến bên ngoài, mọi việc đã có sư cô Tuyết Liên và các vị khác lo.

 

Đầu năm 2004 Ni sư Nhơn Liên cắt hết duyên ngoài, tịnh khẩu chuyên tu. Khi chư Ni và Phật tử có hỏi thăm thì Ni sư chỉ nhìn đáp trả chứ không nói. Mọi người không hiểu đều thấy thương cho bà cụ đã gần 40 năm lo lắng cho tịnh xá. Còn bà cả ngày cứ nằm yên lặng, an trú vào pháp tu, suốt 3 năm như thế.

 

Năm 2007, tháng giêng, sáng ngày 20 Ni sư vẫn còn khỏe. Lúc 7 giờ bà còn nằm chờ điểm tâm, nhưng rồi bà cụ thấy khó thở. Chư Ni lại đỡ bà dậy, chỉ khoảng 10 phút sau thì bà đã đi, gương mặt trông thanh thản an ổn. Sau lễ hỏa táng, nhục thân cố Ni sư Nhơn Liên có khoảng hơn trăm viên xá-lợi, cho thấy công đức của người hảo tâm xuất gia và chuyên trì kinh chú. Cuộc đời Ni sư Nhơn Liên thật là một tấm gương đẹp cho hàng nữ nhân ngày nay noi theo.

 

*****

 

Tại khu vực Phú Lâm – Chợ Lớn, thời Mỹ có một nhân vật nổi tiếng là ông Lý Văn Thạnh chủ hãng xe đò Lộc Thành.

 

 

 

Ông Lý Văn Thạnh pháp danh Thiện Phước, 1917 – 1983.

Ảnh chụp khi ông đã tu. Hình kỷ niệm tại nhà bà Tư Định con ông.

 

 

Ông Lý Văn Thạnh sinh năm 1917, người Cai Lậy, tỉnh Mỹ Tho. Ông là chủ hãng xe đò Lộc Thành rất lớn ở Sài Gòn vào thập niên 1960. Hai em ông cũng là chủ 2 hãng xe đò Tân Tiến Thành và Thuận Thành ở miền dưới. Tuy là một doanh nhân nhưng ông rất mộ đạo, quy y theo ông Đạo Dừa, pháp danh là Thiện Phước.

 

Sự nghiệp kinh doanh đang phát đạt thì ông mộng thấy một nhà sư bay đến phóng quang, dạy ông cất tòa Cửu trùng đài theo mô hình. Sáng ra ông kể với mọi người, rồi phát nguyện trường trai tu hành, bán hết xe đò, xây lên tòa Cửu trùng đài và nhiều am thất, thỉnh ngài Đạo Dừa về làm trụ trì. Vợ ông cũng theo gương chồng cùng tu hành.

 

Trong chương trình xây lên một khu Hòa đồng Tôn giáo chưa từng có ở Việt Nam, ông Thiện Phước đã cúng dường đất làm 5 cảnh chùa và nhà thờ ở Phú Lâm, trong đó đích thân đứng ra xây cất ngôi Tịnh xá Ngọc Lâm cho chư Ni Khất Sĩ.

 

Hòa thượng Giác Ngộ viết trong hồi ký: “…Ông chủ hãng xe đò Lộc Thành có khu đất lớn ở Phú Lâm. Sau hãng xe, ông chấp thuận hiến cho Pháp sư một lô đất rộng có thể xây dựng được một ngôi tịnh xá lớn làm hội sở cho Giáo hội. Nhưng sau ông thay đổi ý, ông muốn làm giáo chủ Hòa đồng Tôn giáo. Ông xây dựng một tòa tháp lớn cao chín tầng làm trung ương, cấp cho mỗi tôn phái một khu đất chung quanh đủ để làm văn phòng sinh hoạt. Giáo hội Tăng-già Khất sĩ Việt Nam ông cũng cấp cho một khu như vậy, nên Pháp sư không nhận. Sau đó ông cúng cho thượng tọa Giác Lý xây dựng Tịnh xá Trung Tâm – Phú Lâm làm cơ sở trung ương Giáo đoàn V.”

 

 

 

Khu HÒA ĐỒNG TÔN GIÁO, ảnh chụp 1968, sưu tầm.

 

 

Ý tưởng làm giáo chủ Hòa đồng Tôn giáo của ông Thiện Phước đã không thành. Nhưng tư tưởng Hòa đồng tôn giáo mà ông muốn phát huy theo tư tưởng của thầy là ông Đạo Dừa thì cũng hay. Như thế, trong thời buổi các tôn giáo đua nhau mở ra ở xứ Nam Việt, thì Hòa đồng Tôn giáo cũng là một sự đóng góp vậy.

 

Tháng 3 năm 1983 ông Thiện Phước tạ thế, hưởng thọ 66 tuổi. Ông Thiện Phước ra đi, sự nghiệp kinh doanh một thời ông đã bỏ, sự nghiệp đạo đức của ông không thành công như ý. Rồi dòng thời gian sẽ làm phai nhòa tất cả, nên Trung Giang Ký Sự ghi nhận thêm nơi đây vài dòng về một nhân vật và vài sự kiện…

 

 

 

Nhà mộ ông Thiện Phước và vợ, phía trước Tịnh xá Trung Tâm – Phú Lâm.

 

 

Trong 10 người con của ông Thiện Phước, hiện nay bà Hai đã mất, 3 người ở Phú Lâm là ông Ba Bảo, bà Tư Định và ông Năm Lộc, còn 6 người sang Mỹ sống. Cửu trùng đài bị nhà nước cho phá đã mấy năm, tại đó xây lên ngôi Trường Tiểu học Phan Đình Phùng để phục vụ cho công ích của xã hội.

 

 

 



 

[1] Hòa thượng Tâm Hòa trụ trì Linh Sơn Tiên Thạch Tự từ năm 1910 đến năm 1937.

 

[2] Chiêm ngưỡng rồi tán thán những lời này: “Thiên thượng thiên hạ vô như Phật / Thập phương thế giới diệc vô tỷ…”

 

[3] Như vậy thật tế đã chứng minh là tiểu Khoa đúng.

 

[4] Ghi theo lời Ni sư Khoa Liên kể. Vậy Tự tứ năm 1960 là thời điểm sư cô Trí Liên bắt đầu đi riêng lập đoàn, còn “Năm 1956 sư cô Trí Liên nảy ý đi lập tịnh xá” là đi riêng khỏi nhóm sư cô Huỳnh Liên.

 

[5] Sau khi sư cô Trí đi, bên nhóm Ngọc Phương đã xóa tên Trí Liên khỏi danh sách chư Ni đệ tử Sư trưởng Minh Đăng Quang.

 

[6] Không rõ có lý do gì mà làm vậy, trong khi đang rất cần phải có thêm cơ sở ngoài Ngọc Truyền.

 

[7] Đầu năm 1963 chánh điện Tịnh xá Ngọc Châu – Châu Đốc được xây dựng trên một sàn bê-tông cao, xem như là chánh điện lầu đầu tiên, nhưng chánh điện vẫn làm vách gỗ lửng có thể tháo ra, nửa vách trên là một tấm tôn lớn có thể chống lên. Vậy Ngọc Lâm là tịnh xá lịch sự nhất thời đó và do người hảo tâm cúng dường trọn gói, không phải do Tăng Ni tạo tác.

 

[8] Đến khi sư Giác Huệ ra riêng thì đệ tử lớn của sư cũng làm như vậy.

 

[9] Bài viết dùng từ “giáo đoàn Tăng” và “đoàn Ni”, mặc dù thời đó chưa dùng từ “giáo đoàn”.

 

[10] Ngày 16/10/1971.

 

[11] Trong 9 vị tỳ-kheo đệ tử Tổ, 5 ngài Từ Huệ, Giác Tánh, Giác Tịnh, Giác Nhơn, Giác Thần đã đi riêng, Ngọc Viên còn lại 4 vị, nhưng TL. Giác  Hòa mất sớm từ năm 1958. Còn TL. Giác Trụ là TK. 1954, cũng gắn bó với Ngọc Viên suốt.

 

[12] Xem quyển Di Bảo do Nxb. Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh xuất bản năm 2013. Trong đó, chứng điệp của sư cô Huỳnh Liên được Sư trưởng Minh Đăng Quang ghi rõ nội dung và đã ký 2 mặt, nhưng giới tử không dán hình, nên chưa được đóng dấu.

 

[13] Những việc này quá kỷ niệm nên các Ni sư đều kể.

 

[14] Đúng là gởi nắm tro tàn chứ không phải để tro cốt xá-lợi gì.

 

[15] Ngày 24/9/1984.

 

[16] Chư Tăng và thiện nam lót chữ Thiện, chư Ni và tín nữ lót chữ Diệu.

 

-------------------------------------------------

 

 

 

Các bài liên quan