CHÁNH PHÁP LÀ THUỐC THẦN DIỆU CHỮA DỨT MỌI TÂM BỆNH CỦA CHÚNG SANH!

Thư viện Chánh Pháp / Tác phẩm mới / Ký sự kỳ 33 Trung Giang

Tâm Nguyên , Thứ Năm 12-11-2015

 

Trung Giang Ký Sự

– kỳ 33 –

 

Hành Vân

 

 

Cuối tháng 10 năm 2013, trên đường đi Hà Tiên tôi ghé Châu Đốc, nghỉ tại Tịnh xá Ngọc Châu ở đối diện Bến xe Châu Đốc cũ. Trước đó đại đức Minh Thiền đã cho tôi biết tâm nguyện muốn viết một cuốn sách mỏng về Tịnh xá Ngọc Châu và vị thầy của sư là cố hòa thượng Giác Linh, nhân dịp cúng giỗ Đại tường ngày 18/10 âm lịch sắp tới. Hòa thượng Giác Linh chẳng phải ai xa lạ mà chính là một trong những sư thúc của tôi, tôi đã từng tiếp xúc và có một số kinh nghiệm đặc biệt với ông cụ. Còn quý sư và Phật tử Ngọc Châu đối với tôi cũng đâu phải người ngoài gì. Nay huynh đệ đã có tâm nguyện như thế, nhân dịp đi qua tôi ghé Ngọc Châu xem có giúp được gì không.

 

Sáng hôm sau, ngày 22/10, khi điểm tâm xong sư Thiền và tôi đi soạn mấy tấm hình chụp Ngọc Châu và cố hòa thượng Giác Linh mà tịnh xá còn giữ. Việc lựa hình để chọn những tấm thích hợp có thể minh họa cho bài viết là việc tôi quen làm. Nói chung thì ai đã từng làm công tác dàn trang cho sách báo cũng đều có kỹ năng đó. Trong khoảng 1 tiếng, hai huynh đệ đã lựa được mấy chục tấm hình đen trắng chụp trước Giải phóng và hình màu mới chụp khoảng trên hai chục năm trở lại đây. Có hình rồi, việc tiếp theo là chụp nó bằng máy Scan, sư Thiền lãnh khâu này…

 

Khoảng hơn 8 giờ, sư Thiền dẫn tôi đến nhà các Phật tử kỳ cựu ở Châu Đốc để hỏi thăm vài chuyện cần bổ xung cho bài viết dự định. Rời tịnh xá, chúng tôi đi một đoạn đến nhà ông Tư Bời. Lúc 2 huynh đệ bước vào nhà, ông cụ đang nằm nghỉ trên phản vội ngồi dậy tiếp khách. Nghe sư Minh Thiền đề nghị kể chuyện ông biết về Tổ sư Minh Đăng Quang, Pháp sư Giác Nhiên và Tịnh xá Ngọc Châu ngày xưa, ông liền nhớ đâu nói đó ngay, ghi gọn được như sau:

 

– Hồi đó Tổ sư về đây, Tổ đi lấy bát, ngồi ăn dưới gốc cây. Thấy vậy ai cũng yểm trợ cho sư cất cốc, cất được 2 cái cốc sau sân vận động, sau nhà lớn bây giờ. Có ông quan Một Cừ quy y với Tổ sư, nhà ổng ở đường xe lửa. Khi Tổ sư về đây, ngài bảo mấy người chăn bò như anh tôi… đi báo cho ông quan Một biết có ngài về. Năm đó tôi 15, 16 tuổi.

 

Năm 62 phái đoàn của Pháp sư Giác Nhiên về đây làm đạo. Pháp sư thuyết pháp ở Bồ-đề Đạo tràng, bà con rần rần đi nghe lời hay lẽ phải của Pháp sư thuyết giảng. Hồi đó nghèo, Pháp sư đi đâu cũng đi bộ. Thấy vậy tiệm tương Thành Lợi ở tại cầu Lò Heo cho chiếc xe chở nước tương để chở phái đoàn đi chỗ này chỗ kia thuyết pháp, ông tài xế cũng hy sinh đi theo lái xe cho quý sư luôn.

 

Phái đoàn của Pháp sư Giác Nhiên không có chỗ ở, mấy bà thiện tín mình mới lo đi tìm đất cho sư có chỗ làm đạo. Họ tìm gặp chị dâu của ông La Thành Thân hỏi xin đất. Có lô đất dư để không, chị dâu ông La Thành Thân chịu hiến hết cho. Nói cho ngay, rồi ai cũng động lòng, bả (?) mới ở Sài Gòn về cho làm con đường đất, đặt tên là đường La Thành Thân. Sau cây gòn mọc nhiều bên bờ đường, nên mọi người gọi nó là đường Hàng Gòn.

 

Ông La Thành Thân là công tử, nhà giàu lắm, ăn rồi vô Nhà Bàng bắn con này con kia chơi chớ không làm ăn gì hết trơn. Nhà ông tường gạch thấp thấp. Nhà ông Bảy Hổ, ông già vợ của ông La Thành Thân ở ngang đó. Ông nội tôi hồi đó cũng ở kế bên. Nay gia đình của ông La Thành Thân đi Pháp, đi đâu hết rồi.

 

Lô đất tịnh xá từ lò heo ra tới đường lộ, đất sạch sẽ lắm, không dơ như bây giờ. Hồi đó chưa có lò heo đâu, xung quanh cũng chưa có ai ở. Khi cất tịnh xá, người thì cho sắt, người thì cho công. Bọn tôi đi lợp nhà, làm chỗ cho sư Ngộ, sư Thuận, sư Phổ… có chỗ ở. Hồi đó vui lắm, mấy sư đi bát, người ta cúng bánh tét này kia, mấy sư về cúng, bọn tôi ngồi gần đó chơi. Đổ lăng-xê, trộn hồ rồi tôi bưng đổ, ai cũng xúm vô làm. Cất tịnh xá quay về đường La Thành Thân.

 

 

 

Tịnh xá Ngọc Châu sau năm 1966, mặt quay về đường Hàng Gòn.

(Tịnh xá bắt đầu làm ngày rằm tháng giêng năm 1963, khánh thành ngày rằm tháng giêng năm 1964, nhưng năm 1966 mới có Giáo hội Tăng-già Khất Sĩ Việt Nam như trên bảng hiệu trong hình.)

 

Mấy sư không ở lâu, mỗi lần chỉ có 3 tháng à. Một lần Pháp sư về kêu tôi lại cho pháp danh là Bửu Quang.Sau ông già tôi cúng thêm đất cho tịnh xá, giáp từ lò heo tới đất của chị dâu ông La Thành Thân cúng.

 

Theo như trong Chơn Lý nói làm tịnh xá quay mặt về phía Tây, mấy sư mới đổi hướng tịnh xá về như hiện nay. Rồi mới vô Công binh ở Núi Sam xin đá và dở sắt ấp chiến lược về đúc cái cầu dài từ cổng vô chánh điện. Hồi đó có sư cụ người Bắc ở tịnh xá, lâu quá tôi không nhớ tên nữa.[1]

 

Sau sư Linh về trụ, tôi cũng đi làm lúa với sư và mấy trò nhỏ, đất ruộng được 2 công. Sư ít thuyết pháp, vì trình độ không có. Sư Linh là người sau chót về đây…

 

 

 

Tịnh xá Ngọc Châu sau năm 1990.

Năm 1980, hòa thượng Giác Linh trùng tu tịnh xá, tháo bỏ chánh điện vách ván mái tôn, xây lại chánh điện tường gạch mái ngói.

 

 

Nhớ đến sự kiện Tổ sư Minh Đăng Quang bị bắt ở Cái Vồn, ông Tư Bời nhắc đến các nhân vật tôn giáo nổi tiếng ở miền Nam trước Giải phóng như các ngài Huỳnh Phú Sổ, Đạo Nằm... cũng bị bắt, bị giết. Đặc biệt, ông đã kể về một người mà lần đầu tôi được nghe nói đến:

 

– Có đức Huỳnh Tâm ở Chắc-cà-đao vô Nhà Bàng cất Cửu Trùng Đài. Ổng học sinh, ốm, để tóc dài. Tối 12 giờ, bọn lính đến hỏi: “Ông có phải đức Huỳnh giáo chủ tái thế không? Nếu phải cho tôi bắn 3 phát!”. Bọn nó bắn ông, bắn 3 phát không chết, bọn nó mới đập ông đến chết, mộ chôn tại đó luôn. Lúc đó tôi phụ làm cầu đường ở gần đó.

 

 

 

Ổng học sinh, ốm, để tóc dài, súng bắn không chết!...

 

 

Chuyện đức Huỳnh Tâm của ông Tư Bời kể nghe sao đơn giản. Có lẽ hình tượng đức Huỳnh giáo chủ trong lòng người dân miền Tây Nam bộ rất thiêng liêng và phổ biến, nên họ thường lấy hình tượng đó để đối chiếu với các nhà tôn giáo khác. Trước khi về, tôi hỏi thăm và được biết ông tên Lê Văn Bời, năm nay đã 80 tuổi. Chúng tôi cảm ơn ông Tư Bời rồi xin phép đi. Chia tay ông cụ, chúng tôi đến thăm bà Giáo Ngọc, một Phật tử cận sự của Ngọc Châu trong hơn 30 năm qua.

 

Bà Giáo Ngọc năm nay 76 tuổi, cỗ xe tứ đại của bà đang bị xuống cấp, nên nó đau nhức, sưng phù mấy chỗ, tóc bạc trắng xóa. Một chiếc xe mua xài hơn 70 năm là đã quá có lời, làm được biết bao nhiêu việc rồi, tiếc gì nữa. Lúc trước nghe mọi người trong tịnh xá hay gọi cô giáo, cô giáo… tôi cứ nghĩ bà làm giáo viên. Sau hỏi sư Lành mới biết bà pháp danh là Ngọc Giáo, quy y lâu năm gọi là Giáo Ngọc.

 

Từ nhà ông Tư Bời qua nhà bà Giáo không xa, cũng đi theo đường Lê Lợi rẽ trái vào. Hai sư vào nhà, bà Giáo ra chắp tay chào và mời quý sư ngồi. Bà mừng vì hôm nay có 2 ông Phật (tương lai) đến nhà. Mấy người cháu của bà cũng ra chào, mang nước mời quý sư. Khi sư Thiền hỏi chuyện, bà Giáo nói:

 

– Con có biết gì đâu, 2 đại đức.

 

Nói vậy rồi bà cũng kể vài chuyện còn ấn tượng trong tâm của bà:

 

– Đầu tiên con xuống tịnh xá, hòa thượng đặt cho con pháp danh Giáo Ngọc, dạy con phải ăn chay trường. Con ăn chay một tháng 10 ngày, nghe lời hòa thượng dạy, từ đó con ăn trường luôn. Trước đó con ăn chay, ăn sáng ngày rằm là tới chiều đã thèm đồ mặn rồi. (Bà cụ bật cười chữa thẹn, tôi cũng cười góp một chút.) Tự nhiên gặp hòa thượng rồi là con ăn chay trường được luôn!

 

Tôi đỡ lời:

 

– À…

 

– Rồi hòa thượng cũng dạy mình phải ăn hiền ở lành, tập trường trai giữ giới…

 

– Hồi đó bà đi với ai?

 

– Đi với chị dâu con. Hòa thượng đặt chị con pháp danh là Hoa Ngọc, con là Giáo Ngọc. Mấy đứa cháu của con giờ cũng đều có pháp danh hết: Như Ngọc, Huệ Ngọc, Huệ Thông…

 

– Hồi đó hòa thượng hay dạy gì?

 

– Hòa thượng dạy phải rán niệm Phật để vãng sanh, ăn hiền ở lành…

 

– Vào mỗi tháng cúng hội, hòa thượng thuyết pháp nói chuyện gì?

 

– Ngài cũng khuyên mình phải rán lo tu… Con chưa thấy ai như hòa thượng, hiền mà thương Phật tử, lo cho Phật tử.

 

Tôi hỏi thêm:

 

– Bà Giáo có biết hòa thượng Linh đi tu như thế nào, kể cho sư nghe với.

 

Bà Giáo Ngọc đáp:

 

– Hồi đó mẹ hòa thượng là bà Như Ngọc công quả ở Tịnh xá Ngọc Giang, rồi hòa thượng cũng theo mẹ tập tu. Ngài theo mẹ tu tại gia từ năm 7 tuổi…

 

Sư Thiền hỏi:

 

– Hòa thượng xây dựng tịnh xá lần thứ 2, cô Giáo nhớ không?

 

– Lúc còn nấu cơm dưới sàn chánh điện, lúc đó con chưa có. Lúc con đến là tịnh xá đã trồng sen, trồng rau muống, nước đầy hết, con cắt rau muống đi bán lấy tiền mua đồ xớt bát cho quý sư… Làm như bây giờ con không nhớ dai nữa!

 

Sư Thiền nhận xét:

 

– Chiếc xe xài 76 năm được vậy là tốt rồi, cô Giáo!

 

Bà cụ bật cười, bảo:

 

– Nó rơ hết rồi, chắc con phải thêm dầu, thêm nhớt vào!

 

Ghé thăm bà Giáo Ngọc một lát rồi 2 huynh đệ đi. Bà cụ ra đón xe lôi, bảo chở đến chỗ nhà cô Tuyết Ngọc, nhưng đi được một đoạn thì sư Thiền kêu xe dừng, ghé vào nhà thờ ông Thoại Ngọc Hầu thăm bà Châu Ngọc.

 

 

 

Xe lôi ở Châu Đốc.

Loại chúng tôi đi thùng bằng hơn, hai sư ngồi 2 bên, thả chân thòng xuống.

 

 

Lúc 10 giờ 2 huynh đệ đến nhà bà Châu Ngọc, một Phật tử kiền thành và cũng là một người cháu nhiều đời của ông Thoại Ngọc Hầu. Theo các sách lịch sử Việt Namghi nhận, ông Thoại Ngọc Hầu là quan lớn triều Nguyễn, đứng vào hàng công thần khai quốc, có công lớn mở mang và gìn giữ bờ cõi phía Nam. Ông tên Nguyễn Văn Thoại (còn gọi là Thụy), sinh 1761 – tử 1829, người gốc xứ Đà Nẵng, từ bé được mẹ dẫn vào Nam, ở tại huyện Vũng Liêm tỉnh Vĩnh Long ngày nay. Cuối đời ông làm nhiều chức lớn, trong đó có chức Án thủ Châu Đốc, đã cho xây sẵn khu lăng mộ tại triền núi Sam – Châu Đốc để ông và 2 vị phu nhân an nghỉ ngàn thu. Sau khi ông mất, có tên quan nhỏ đã vu cáo ông tham ô của công trong mấy lần làm Bảo hộ Cao Miên, vua Minh Mạng lấy cớ đó giáng cấp ông, thu hồi hết phẩm lộc đã ban cho 2 con trai ông. Đến khi được biểu tấu của vua Cao Miên báo rằng quan bảo hộ Nguyễn Văn Thoại đã cấp đủ tiền công cho dân, đức hoàng đế nước Đại Nam không phải cấp thêm nữa, Minh Mạng vẫn quyết giữ nguyên án. Mãi đến hơn 90 năm sau, vua Khải Định mới xuống chiếu minh oan cho Thoại Ngọc Hầu vào năm 1924. Không rõ bà Châu Ngọc là cháu nhiều đời của ông Thoại Ngọc Hầunhư thế nào?

 

Sáng hôm ấy “cô Châu ốm” có vẻ rất vui, đem hết mấy hình xưa ra cho chúng tôi xem, rồi kể nhiều chuyện mình biết về quý sư Ngọc Châu vàothuở đầu mới thành lập, và nhất là “Bây giờ con đứng gần quý sư không còn sợ làm cho quý sư mang tiếng nữa!”. Lúc ra về, khi tiễn chúng tôi ra cửa bà cụ cũng có lặp lại câu nói đó, tôi cười đáp: “Đúng rồi, bà gần tám mươi rồi có gì mà ngại!”.

 

 

 

Một trong những tấm hình bà Châu Ngọc còn giữ.

Chư Tăng và Phật tử lưu ảnh kỷ niệm vào dịp khánh thành Tịnh xá Ngọc Sơn – Rạch Giá.

Hàng đầu, từ trái qua: TL. Giác Nhẫn, PS. Giác Nhiên, sư Giác Linh.

Cô Châu ốm đứng giữa 3 người Phật tử.

 

 

Tạ từ “cô Châu ốm” khi 2 kim đồng hồ treo tường đều đã nằm ngay đỉnh, chúng tôi về tịnh xá ăn vội bữa cơm, sau đó nghỉ một lát để rồi sẽ đi tiếp. Theo dự định, sư Thiền sẽ dẫn tôi đến tiệm chụp hình Ngô Biện và nhà bà Tuyết Ngọc, sau đó về chụp hình xá-lợi hòa thượng Giác Linh và làm một số việc khác nữa.

 

Trời trưa, nắng to, hai huynh đệ đi xe ôm đến tiệm ông Ngô Biện. Ông mất đã lâu, bây giờ có những người con cháu kế nghiệp ông. Tiếp chúng tôi là chú Năm Tri, con rể ông Ngô Biện. Năm 1949, tại sân vận động Châu Đốc, ông Ngô Biện đã chụp hình đại đức Minh Đăng Quang. Ông chụp nhiều kiểu, về sau trở thành những tấm ảnh rất quý, và gia đình ông trở nên thân quen với giới Phật tử của Đạo Phật Khất Sĩ. Do duyên sự đó mà chú Năm Tri rất tự nhiên với chúng tôi.

 

Khi ngồi xuống rồi, sư Thiền nói sơ qua lý do ghé đây, nhưng gia đình cũng không có gì để kể thêm. Tôi nói Châu Đốc bây giờ không khác mấy năm trước lắm, thấy chủ nhà trả lời tôi bắt chuyện thêm:

 

– Châu-đốc chắc phải là từ phiên âm của tiếng Khmer.

 

Chú Năm Tri đồng ý, cho biết rằng Châu-đốc có nghĩa là “Mỏm lợn”, theo như kiến thức chú sưu tầm được. Tôi hỏi tiếp:

 

– Còn Mỹ-tho, Ô-môn, Thốt-nốt, Sa-đéc… thì sao chú?

 

– Cũng là tiếng Miên hết chớ gì.

 

Sư Thiền nhắc thêm:

 

– Tri-tôn, Ba-chúc… nữa.

 

Tôi cũng góp chuyện tiếp cho rôm rả (như cắn bánh tráng nướng):

 

– Ừ. Như Ba-thê, có người dịch thành Ba vợ là trật lất. Nếu hiểu theo chữ Hán thì Ba vợ phải là Tam thê chớ sao Ba thê nửa Việt nửa Hán kỳ vậy?

 

Chú Năm Tri đồng ý, miệng phun khói phì phà, đi qua đi lại vừa nói vừa làm hình cho khách, hất hất mái tóc để dài như ngài Huỳnh giáo chủ...Một lát sau, vợ chú Năm nhắc rằng những tấm film ngày xưa vẫn còn, tôi nảy ra ý rửa một bộ hình Tổ sư khổ lớn 30 x 40, cô điện thoại hỏi giá dùm: một tấm trắng đen 85 ngàn, nhưng tôi nghĩ lại cũng không cần lắm…

 

Rời nhà ông Ngô Biện, chúng tôi đến nhà bà Tuyết Ngọc, một căn nhà mặt phố, buôn bán các thứ. Bà rất vui và hết sức thành kính tiếp đón quý sư. Nhưng cũng như bà Giáo, bà Tuyết không có nhiều điều để kể với chúng tôi. Thấy vậy tôi gợi ý:

 

– Hồi hòa thượng Linh còn sống là khác, bây giờ ngài đã viên tịch, nhục thân để lại xá-lợi rất quý ai cũng thấy. Người không hiểu chuyện thì thôi, nhưng đối với hàng Phật tử có hiểu biết, chắc rằng các vị ấy sẽ nghi vấn: “Ông cụ tu pháp gì, ông cụ tu thế nào… mà có được xá-lợi? Đương thời Phật giáo Việt Nam thịnh hành, nhưng đã mấy ai lưu lại xá-lợi như thế!”. Bà Tuyết thấy đúng không?

 

Bà Tuyết Ngọc vui vẻ đáp:

 

– Dạ đúng, bạch đại đức. Sư phụ thường dạy chúng con ăn hiền, ở lành, làm phải…

 

Ăn hiền ở lành là chuyện mà dân mộ đạo nào cũng biết. Tuy biết vậy, nhưng hiền thế nào, lành ra sao lại là chuyện khác nhau ở mỗi đạo. Quả thật người ở đây ít để ý công hạnh của hòa thượng Giác Linh, tuy họ có nhiều gắn bó với ngài. Tôi gợi ý thêm nữa:

 

– Từ nhiều năm trước sư đã để ý đôi mắt của ông cụ. Bà Tuyết có thấy không, đôi mắt của ngài thường nhìn vô trong chứ không nhìn ra ngoài như hầu hết người đời! Đó là đôi mắt của người có định.

 

Bà Tuyết vẫn khép nép khoanh tay đứng bên tủ hàng, thưa liền:

 

– Dạ. Hồi đó sư phụ hay dạy là nên nhìn chính mình chứ đừng nhìn ai hết. Mình tu thì phải thường xem xét lỗi mình.

 

Tôi chốt một điểm:

 

– Bà thấy không? Ngài nói sao làm vậy, làm gì dạy nấy, đó là thân giáo nghiêm cẩn. Con người có 3 nghiệp thân, miệng, ý, nên các bậc thầy cũng dùng 3 cách dạy bằng thân, miệng, ý. Thân giáo khó hơn là khẩu giáo, bởi thân giáo là phải làm gương!

 

Bà  Tuyết Ngọc chợt nhớ ra những điều đặc biệt của thầy mình liền nói:

 

– Dạ. Sư phụ thuyết pháp không hay, nhưng đúng là ngài nói lời nào chắc lời nấy. Hồi côHảo em con còn ở nhà, sư phụ có nói với mẹ con: “Bà Nhơn xem, sau con nhỏ này đi xuất gia đó.”. Ngay đại đức Minh Thiền đây cũng vậy, sư phụ cũng có nói trước là sau sẽ đi tu, mà đều đúng vậy!

 

Sư Thiền gật đầu. Bà Tuyết nói tiếp:

 

– Hồi con phát tâm ăn chay trường, sư phụ chứng minh cho, thế là con ăn được luôn. Mà có nhiều Phật tử cũng như con nữa, hễ xin sư phụ chứng minh là ăn chay trường được luôn chớ không thấy khó nữa!

 

Sư Thiền tiếp lời bà Tuyết:

 

– Ngài có năng lực chứng minh.

 

Quả thật năng lực chứng minh và tác thành thiện nghiệp cho đệ tử không phải vị thầy nào cũng có được. Trong Phật pháp, một bậc thầy có năng lực đó mới xứng danh “Hòa thượng”. Danh từ Hòa thượng vốn chỉ những bậc thầy như thế, ngày nay danh từ đó đặt nặng về chức danh hành chánh của một tu sĩ cao niên và cao hạ trong một tổ chức Giáo hội Phật giáo. Tôi hỏi pháp danh và xin số điện thoại của sư cô em bà Tuyết, thì ra đó là sư cô Gương Liên đệ tử của cố Ni trưởng Ngân Liên, hiện đang tu ở Ô Long Vĩ. Tôi vừa ghi địa chỉ và số điện thoại vừa đùa: “Ô Long Vĩ có nghĩa là Đuôi rồng đen ha?”. Trong tiếng Hán, Rồng đen là Hắc long, còn ở đây lại dùng chữ Ô long, để có dịp tìm hiểu xem sao…

 

Buổi chiều hôm đó đại đức Minh Thiền dẫn tôi lên chánh điện, đến bàn thờ hòa thượng Giác Linh thỉnh tháp xá-lợi xuống. Tôi mang miếng vải nỉ đỏ vừa mua ở chợ Châu Đốc banh ra, sắp xá-lợi thành đám tròn rồi chụp hình. Lần chụp này xem như để có tư liệu làm việc, chứ hình chưa ưng ý tôi lắm.

 

 

 

Xá-lợi hòa thượng Giác Linh

(Đặt kế bên 2 hạt gạo để so sánh)

 

 

Tối đó ở Ngọc Châu, tôi hỏi thăm vài huynh đệ rằng hòa thượng Giác Linh dạy đệ tử tu thế nào? Đa số các sư đều có ý làm Tăng sư thì giữ hạnh kiểm và bổn phận là đủ, chỉ có sư sa-di Minh Thức nói: “Sư phụ dạy con tu là cứ giữ tâm an lạc thôi.”. Tôi ghi nhớ lời Minh Thức nói rồi đi hỏi sư Minh Thiền. Từ khi hòa thượng còn đến bây giờ, sư Thiền đều là người đứng đầu trong chúng ở Ngọc Châu. Hôm đó sư Thiền kể cho tôi nghe đại khái mấy chuyện về sư phụ mình:

 

– Ai đi xa mấy chục năm gặp lại ngài vẫn nhớ tên, kêu gọi hỏi thăm, ai cũng rất ngạc nhiên và kính phục.

 

– Một đêm ở núi quên tu thiền thì thấy cốc lung lay, ngài nhìn thấy một ông già tóc bạc đang đứng lay chân cốc.

 

– Có lần tu thiền ngài thấy một cô gái mặc áo dài trắng, tóc xõa dài, đến hỏi rằng: “Khi nào sư về núi?”. Lúc đó ngài đáp ngay: “Hễ có duyên thì về.”. Nghe vậy cô gái biến mất.

 

– Hồi trẻ ngài thường tu vào 4 giờ Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu, (12 giờ khuya, 12 giờ trưa, 6 giờ sáng và 6 giờ chiều).

 

 

 

Đại đức Giác Linh trong giai đoạn còn tu ngày tu đêm cực khổ.

 

 

– Khi thuyết pháp cúng hội ngài hay đọc kệ khuyến tu:

 

Đời người trăm tuổi có bao lâu

Sớm chẳng tầm tu, kế bạc đầu

Răng rụng, mắt mờ, tinh khí kém

Tội dày, phước mỏng, nghiệp càng sâu.

Trước lo bồi đức gieo nhân tốt

Sau kết thành duyên được quả mầu.

Nay gặp Thuyền Từ mau trở lại

Dần dà cái chết biết về đâu!

 

– Hoặc đọc bài kệ Thân – Tâm – Trí – Tánh của bậc giải thoát:

 

Thân ta như đất trơ trơ

Tâm ta như nước giờ giờ lặng trang

Trí ta thơ thới nhẹ nhàng

Tánh ta chẳng muốn buộc ràng chi chi…

 

Cảnh giới Thân – Tâm – Trí – Tánh này thật thanh cao, nhẹ nhàng, đó chính là điều ngài muốn khuyến khích các đệ tử Tăng, tục.

 

Rồi sư Thiền đọc thêm cho tôi nghe một bài thơ mà sư phụ mình hay đọc:

 

Giác Linh tu tịnh Hà Tiên núi

 

Phổi, ghẻ, lác thay nhau hành hạ

Mà Linh này vẫn thức thâu đêm.

Pháp sư ơi, Pháp sư có biết nỗi niềm?

Nếu Pháp sư biết thì đừng kêu Linh về.

 

Theo câu hỏi của tôi, sư Thiền cho biết bài này hòa thượng làm trước Giải phóng, nhưng sư không rõ năm nào. (Sau này tôi hỏi quý hòa thượng trong đoàn thì được biết ngài Giác Linh tịnh tu ở Hà Tiên từ năm 1971 – 1973, hòa thượng Pháp sư gọi về Sài Gòn giao trụ trì Tịnh xá Ngọc Quang từ năm 1974 – 1976, từ Tự tứ năm 1976 về trụ trì Ngọc Châu.). Xem bài thơ của hòa thượng Giác Linh dí dỏm không?Ngài và hòa thượng Pháp sư Giác Nhiên bằng tuổi, cũng phát tâm tu hành từ lúc còn nhỏ, nhưng phước duyên trong đạo thì Pháp sư là thầy, ngài làm trò.

 

 

 

Năm 2003, hòa thượng Pháp sư ghé thăm Tịnh xá Ngọc Châu,

hòa thượng Giác Linh đứng quạt hầu thầy đang nói chuyện với Phật tử.

 

 

Sư Thiền lại vào mở tủ lấy tờ giấy bìa vở ra cho tôi xem, trên đó có 2 bài kệ của hòa thượng Giác Linh, do chính ngài ghi lại:

 

Giữa biển Trần trầm luân muôn sóng khổ

Biết bao điều cay đắng với thương đau!

Hiểu đạo lành nay cố gắng dồi trau

Quyết tu học mong sau về Cực Lạc.

 

Một kiếp nhơn sanh vạn nỗi sầu

Đường trần muôn lối biết về đâu?

Ngoài kia mưa bão con thường thấy

Sớm bước cho qua đoạn giãi dầu.

 

Hai bài kệ này đã nói lên được những tư tưởng và hoài bão của tác giả. Ôi, thế nhân đang ngụp trong bao vũng lầy khổ não, mãi nô lệ cho vật chất, cam chịu cho các dục vọng đày đọa! Nhưng cũng như trẻ con ham vọc đất vọc cát, người ta cần có những trò tham – sân – si để rút kinh nghiệm, Chơn Lý gọi đó là lớp học Ác của “trẻ con”. Rồi họ sẽ phải đến lớp học Thiện của “người lớn”, sau cùng là lớp học Chơn của “ông già”. Cả vũ trụ có chừng đó công việc!

 

Sáng ngày 23 tôi đi Lấp Vò để gặp những người em ruột của cố hòa thượng Giác Linh. Muốn biết nhiều hơn về thân thế của một người xuất gia, trong giai đoạn người đó chưa xuống tóc, thì dĩ nhiên là phải hỏi thăm thân quyến của người ấy. Hòa thượng Giác Linh sinh quán ở huyện Chợ Mới, tại xã Hòa An, giáp huyện Lấp Vò của Đồng Tháp.

 

Tôi qua phà An Hòa, đi thêm 6km đến xã Hòa An, rồi điện thoại cho anh Ngọt con bà Tư như đã được chỉ dẫn. Anh Ngọt chạy xe lên trường Mầm non đón tôi về nhà. Bà Tư em kế hòa thượng Linh và mấy người con trai, con dâu của bà niềm nở đón tiếp tôi. Họ cứ ngỡ tôi là sư Minh Bền. Bà Tư bảo con ra quán mua nước sữa đậu nành đãi tôi uống cho khỏe người đặng đi xa làm việc.Tôi cảm tạ thịnh tình của gia đình bà Tư, ăn vội 2 chén cơm với canh khoai mỡ và tranh thủ hỏi thăm bà Tư về hòa thượng. Thì ra bà Tư không có kỷ niệm gì về anh mình hết, vì hồi nhỏ bà ở với chú, do chú không có con. Lớn lên bà có gia đình riêng còn anh trai đi tu ít về nhà lại càng làm cho quan hệ giữa 2 anh em có khoảng cách rất xa.

 

Để bù lại việc mình ít biết chuyện gì về anh, bà Tư bảo con chở tôi qua dì Ba ở ấp kế bên. Anh Ngọt lấy xe chở tôi đi dọc theo con sông, ngang qua nhiều nhà máy gạo, ngang qua chùa Hội Phước, đến nhà bà Ba. Bà Ba bị điếc nặng,khi nghe thủng được lý do tôi đến nhà, bà kể ngay:

 

– Hồi nhỏ sư Linh đặc biệt lắm. Cá chết, gà vịt ai giết rồi thì sư còn ăn, chớ bảo sư giết mấy con vật để ăn thì sư không mần. Hồi đó bà nội tui là bà ngoại của sư Linh, qua tháng 10 hứng tép, sư nói hứng làm chi, sư đem đổ hết. Còn bà bắt được một rổ cá, loay hoay nhìn lại thì sư cũng đã đổ hết trơn rồi. Cô Năm – dì Phát (em út của ba bà Ba) mới nói: “Bà Đốc ơi, bà được cậu nhỏ này quý lắm nghe: lính nhà Phật đó!”.

 

Rồi sư đến chùa gần đây làm công quả, bà Như cũng hay dẫn sư đi chùa này chùa kia, sau sư đi tu luôn, lúc cuối sư về chùa ở Châu Đốc ở suốt đến khi mất…

 

Lúc thanh niên sư đẹp trai lắm. Có bà xẩm ở tiệm thuốc chỗ cầu kho Long Xuyên muốn sư lắm, mà sư không tính tới, sư đi tu thôi.Hồi đó khổ lắm…

 

Sư bệnh nghen, mà sư biết ngày sư chết. Trong bầy con tui có con thứ Sáu được sư thương hơn hết. Tui lên thay chị Tư chăm sóc sư. Sư bệnh chỉ uống nước chớ không ăn được gì. Rồi sư đòi lên chùa (chánh điện) ngồi thiền, xuống sư ăn được chén cháo. Khi tui về mà sư cứ nhắc tên con Sáu hoài. Tui về mới bảo nó: “Sáu à, sư thương con lắm đó, con lên thăm sư đi.”. Nó lên. Ngày 16, sư đi phát quà cho người ta, sư hỏi nó: “Hạnh có đi theo được không?”. Nó nói: “Không được hòa thượng à, nhà đơn chiếc quá, con đi học hết trơn.”. Sư mới nói: “16 sư đi cho quà, 17 sư về tịnh xá, 18 sư sẽ bỏ xác!”. Nó về cà mà cập mập với tui: “Má, má, sao hòa thượng đã bớt, đã ăn cháo được, mà hòa thượng nói với con là 17, 18 hòa thượng bỏ xác?”. Tui nạt nó: “Mày nói bậy không! Sư mạnh rồi mà, Phật tử lo cho sư êm lắm.”. Thằng em thứ Tư của tui, nó có xe riêng nên đi mau, đến nơi sư còn thở. Tui đi xe đò nên lên sau, lúc sư đã tắt thở rồi. Tui mới nói với mấy bà Phật tử: “Mèn ơi, sư đã mạnh rồi mà mấy bà không bảo sư ở lại?”. Mấy bà nói: “Cô nói vậy chớ để sư đi cho thong thả, đừng hành xác sư quá!”.

 

Kể tới đây bà Ba nghẹn lời, một lát cất giọng khàn khàn nói tiếp:

 

– Tội nghiệp sư lắm! Lên chùa nhớ sư, thiệt là hiền hòa, hòa đời hòa đạo, đôi mắt từ bi, nói chuyện dễ mến. Sư biết hết trơn đó. Sư nói tui: “Cô đó, đừng có nhớ chuyện dĩ vãng, nhớ chuyện dĩ vãng rồi buồn khổ, bỏ đi!”. Tui có bao giờ nói với sư là tui nhớ chuyện dĩ vãng đâu, mà đúng là tui hay nhớ thật: nhớ hồi đó tản cư khổ, cha mẹ chết làm sao, anh em tứ tán làm sao, nhớ đủ thứ hết! Mỗi lần gặp sư đều khuyên tui.

 

Bà ngưng nói, uống nước.Tôi nghĩ mà lạ: Nhà sư đã giải thoát thấy nhân loại ngày đêm bị kềm kẹp đủ điều nên thốt lên “Tội nghiệp!” thì phải, cớ sao chúng sanh lại nói: “Tội nghiệp sư lắm!”? Quái lạ thật! Một lát bà cụ nói:

 

– Sáng mơi giờ bệnh, chóng mặt quá, tui cũng không biết khi nào thì đi nữa! Tui niệm Phật hoài, khi nào phải Phật độ tui đi.

 

Tôi quan tâm:

 

– Dì Ba tám mươi chưa?

 

Anh Ngọt lớn tiếng hỏi giúp, bà cụ nói tuổi thiệt của mình là tuổi Hợi (1935). Rồi bà cụ lại rơm rớm nước mắt mà nhớ về mẹ mình, cha chết, mẹ mang bầu đứa em út… Ôi chao! Cái khổ ví như có mười, gặp người như bà Ba chúng nó đã được nhân lên thành hàng ngàn! Đúng là “Khổ khổ”, những nỗi khổ chồng chất, một trong ba loại khổ của tam giới.

 

Tôi an ủi dì Ba vài lời, chúc bà mạnh khỏe rồi xin phép đi. Anh Ngọt lại chở tôi ra, lần này đến bến phà để tôi đón xe về lại Ngọc Châu. Lúc này tôi đã phác họa được quyển sách viết về hòa thượng Giác Linh. Về Ngọc Châu tôi hỏi sư Thiền rằng quyển sách sẽ mang tên là Sen nở miền Châu Đốc có được không? Sư Thiền suy nghĩ một lát rồi nói cũng được. Chiều hôm đó tôi đi làm một số việc, đến ngày đầu tháng 11 lại quay về Ngọc Châu lo làm cho xong quyển sách.

 

 

 

Một đóa sen vươn khỏi đầm lầy, tô điểm hương sắc thanh cao cho cuộc đời.

 

 

Chiều ngày 2/11 tôi ghé thăm tịnh thất Ngọc Mỹ ở ấp Mỹ Hưng, xã Mỹ Phú, huyện Châu Phú. Từ Ngọc Châu đến đó khoảng 10km. Khi sáng ai cũng bận lo cúng hội, đến bây giờ sư cô Gương Liên mới có thời gian rảnh để tôi hỏi thăm một số chuyện.

 

Tịnh thất Ngọc Mỹ rất gọn, nằm ngay mặt đường hẻm đi vô xã Ô Long Vĩ. Tịnh thất rộng gần 400m2, mới xây dựng vào năm 2007, tuy sư cô Gương Liên đã về đấy tịnh tu từ năm 1991, sau khi bổn sư của sư cô là Sư bà Ngân Liên viên tịch.

 

Tôi hỏi thăm sư cô về hòa thượng Giác Linh và Ni trưởng Ngân Liên. Sư cô quỳ, chấp tay nói chuyện, có một đệ tử quỳ phía sau. Tôi mời sư cô ngồi mấy lần mà sư cô đều yêu cầu để mình được tự nhiên.

 

Năm 1977, cô theo mẹ là bà Nhơn Ngọc đi đến Tịnh xá Ngọc Châu chơi. Khi đó hòa thượng Giác Linh cho cô quy y, đặt pháp danh là Hảo Ngọc, và nói với mẹ của cô rằng: “Con nhỏ này sau sẽ đi tu đó bà Nhơn. Sư nói ai là có vậy đó nghe!”. Khi nghe hòa thượng Giác Linh nói thế, cô cảm thấy chấn động, tuy ngày thường có bao giờ nghĩ đến chuyện đi tu. Còn mẹ cô lúc đó đáp: “Nó còn phàm tục lắm, chắc không đi tu nổi đâu, đại đức.”.

 

Sau đó, hễ đi đến các tịnh xá trong giáo đoàn như ở Bố Thảo, Phụng Hiệp, Thành phố… hòa thượng Giác Linh đều kêu cô đi theo Phật tử, mục đích để cô xem nơi nào hợp duyên thì xuất gia. Lần lượt hòa thượng Giác Linh giới thiệu Sư bà Trí Liên, rồi Sư bà Ngân Liên cho cô biết. Giới thiệu Sư bà Ngân Liên, hòa thượng Giác Linh bảo: “Sư bà đây khó lắm nghe, con nhắm có theo nổi không?”. Lúc đó cô đã bướng bỉnh trả lời: “Dạ, khó mới nên người chớ, đại đức!”. Rồi cô xin theo Sư bà Ngân Liên xuất gia, được pháp danh là Liên Gương, tu luôn tới giờ...

 

Do có duyên với hòa thượng Giác Linh như thế, nên thỉnh thoảng cô về thăm và được hòa thượng khuyên bảo này kia như một vị thầy. Có mấy lần hòa thượng Giác Linh khuyên cô nên xin phép bổn sư đi tịnh tu. Nghe sư cô Gương thổ lộ điều đó, tôi bảo:

 

– Chắc ngài biết nhân duyên của sư cô nên khuyên như thế. Theo sư hiểu, tịnh tu để chứng nghiệm tâm linh hay ra hoằng pháp hướng dẫn Phật tử tập tu đều như nhau, chỉ là tùy duyên mà hành xử thôi. Người không hiểu, cho rằng tịnh tu là Thanh Văn, còn hoạt động này nọ là Bồ-tát thì nói không chính xác. Như lúc ngài Sĩ-đạt-ta tu khổ hạnh 6 năm, lúc đó ngài là Thanh Văn hay là Bồ-tát? Vậy nên sư cô thấy nhân duyên của mình thế nào thì cứ tùy thuận, có ngại gì?

 

Còn tôi cũng có mấy kỷ niệm với hòa thượng Giác Linh. Hồi năm 1994 tôi về ở Tịnh xá Ngọc Châu khoảng nửa tháng. Lúc đó Ngọc Châu còn nằm giữa một đầm nước đen sì. Tôi được ngài trụ trì cho nghỉ tại cốc ngoài cùng, kế bên một cây dừa Xiêm trồng trên một ụ đất. Đây là cốc của sư Minh Hành đã ở. Cốc nằm trên mấy trụ bê-tông lêu nghêu, phía trước có mấy chậu lục bình (ngô đồng). Có một lần hòa thượng Giác Linh ra thăm tôi. Tôi không nhớ 2 người đã đứng nói chuyện gì, bỗng nhiên hòa thượng đưa chân đá đá chậu kiểng, nói: “Sư hãy dùng trí Bát-nhã để xem chậu hoa này!”. Nghe hòa thượng dạy, lúc đó tôi chỉ vâng dạ chớ không quan tâm lắm. Nhưng rồi mấy ngày sau câu nói của ngài cứ còn mãi trong lòng, nên tôi cũng nghĩ ngợi: “Sao bỗng nhiên ông cụ lại khuyên điều đó? Một người đệ tử Phật phải hàng ngày tập sử dụng trí Bát-nhã chớ đợi gì xem chậu hoa?”…

 

Về sau có lần nhớ lại kỷ niệm đó, tôi khởi tư tưởng ôn hòa hơn: “Xem chậu hoa này có ý nghĩa chung là xem Sắc. Mình tuổi trẻ bồng bột tình cảm, chưa khỏi vọng tưởng linh tinh về một chữ Tình, nên ngài dạy mình quán Sắc là đúng rồi. Có lẽ giữa ngài và mình không có duyên thầy trò nên mình phản ứng thờ ơ như thế.”. Bây giờ ghi kỷ niệm này ra đây, tôi nghĩ: “Nếu dùng trí Bát-nhã xem Sắc, thì từ xưa đức Phật đã dạy: Sắc không bền, mong manh, không chắc một tính chất riêng nào, và vui ít khổ nhiều. Sắc vô thường – vô ngã – khổ não như thế là điều mà bao kẻ mê đắm sắc cần biết. Còn như trong Kinh Thủ-lăng-nghiêm đã dạy: Nhân nơi Sắc mà biết được Tâm, do nơi Thanh mà ngộ được Tâm… Có nghĩa là:

 

Tòa Sắc tướng Nhơn ông tạm đó

Các pháp kia tướng nọ luống chơn!

 

Vạn vật, vạn sự trong đời đều chơn, không phiền hà gì hết, với người đã giác ngộ chơn ngã nơi mọi tướng trạng.”

 

Ngoài chuyện dùng trí Bát-nhã đó, một lần ở Tịnh xá Trung Tâm, trong đêm Tự tứ Tăng tôi còn có một kỷ niệm đặc biệt về hòa thượng Giác Linh. Tối hôm đó khi Tăng họp, quý hòa thượng, thượng tọa ngồi 2 hàng giữa, hàng đại đức và tân tỳ-kheo ngồi 2 hàng ngoài. Lúc ấy chỗ tôi ngồi ngay gần sau lưng hòa thượng Giác Linh. Quan sát Tăng đoàn, thấy có mấy vị tôn túc vắng mặt, tôi khởi niệm về hòa thượng Giác Linh: “Ông cụ này đặc biệt, đôi mắt như đã vào định, trong một giáo đoàn cần có những vị như thế để chứng minh cho Phật tử được phước lành cúng dường Tam Bảo.”. Khi đó ngài liền quay lại nhìn tôi gật đầu một cái.

 

 

 

Hòa thượng Thích Giác Linh đang ngồi chứng minh cho Phật tử cúng dường.

Mắt ngài thường nhìn vào trong, ánh mắt không xao động, thần của mắt đã định, nó huyền bí, có khi như nhìn thấu tận lòng người…

 

 

Còn lần gần đây nhất là mới cách mấy ngày, sư Thiền chỉ 2 tấm hình hòa thượng Giác Ngộ đang dùng máy tính bảng quay phim, chụp hình trong tang lễ của hòa thượng Giác Linh mà than rằng: “Ngài là vị đệ nhất chứng minh hôm đó mà không ngồi một chỗ, lại đi tới lui chụp hình!”. Nghe sư đệ than mà tôi phát phìcười, nói: “Hòa thượng Giác Linh đâu cần ai phải cầu siêu nữa!”… Nói chi hòa thượng Linh, ngay một kẻ thường dân nào, trong Chơn Lý cũng đã dạy rõ: “Người giữ một giới Không giết hại đã được siêu rồi.”. Người giữ một giới Không giết hại đã được siêu thoát khỏi chỗ nào? Người ấy vượt qua được 4 con đường vô cùng nguy hiểm là Địa ngục, Quỷ đói, Súc sanh và Thần A-tu-la. Công đức của một giới đã như thế, huống gì giữ nhiều giới cùng gia trì thêm Định và Trí tuệ của chư Phật? Vậy ta nên lo cho chính mình hơn là lo cho các bậc Thầy ấy!

 

Sáng ngày 4/11 quý sư ở Ngọc Châu đi cầu siêu bên Vĩnh Châu, tôi tranh thủ ở lại tịnh xá làm cho xong tác phẩm Sen nở miền Châu Đốc. Đến lúc ấy tôi vẫn nghĩ am Nhân Nhượng là cái cốc gần Tịnh xá Ngọc Đăng trên núi Tiểu Tô Châu. Nhưng trước khi lên xe, sư Minh Thiền lại hỏi tôi về am Nhân Nhượng có đúng là trên núi đó không? Thì ra chính sư cũng không chắc, vậy tôi dựa vào đâu để viết? Nên trưa hôm đó tôi lại đi Hà Tiên.

 

Đường đi từ Châu Đốc ra Hà Tiên dọc theo kênh Vĩnh Tế dài gần 100km. Buổi chiều không còn xe đò đi Hà Tiên, nên tôi đi xe ôm, đi và về hết 300.000 đồng. Đoạn đường không có ổ gà nhưng cũng không bằng phẳng, bác tài đã tháo dây đo vận tốc xe, chạy rất nhanh, tôi đoán là không dưới 70km/giờ. Ngồi trên một chiếc xe máy chạy rất nhanh trên con đường không bằng phẳng, suốt cả buổi thân người ngồi cứ bật lên hạ xuống, đến tối về nhà thì rêm cả mình. Tuy vậy tôi không tiếc công đi một chuyến chiều hôm đó, vì tôi đã có được một số thông tin cần thiết.

 

Lúc xe đến thị xã Hà Tiên là 2 giờ 40 phút, đi hết 130 phút. Tôi lên núi Tiểu Tô Châu, ghé thăm tịnh xá Ngọc Tiên. Hai vị Ni sư ở đây đều đã đi Sài Gòn, chỉ còn mấy sư cô và Phật tử đang tụng Kinh Vô Lượng Thọ trên chánh điện. Cảnh tịnh xá thanh vắng, cheo leo. Tôi đi dạo một vòng, chụp vài cảnh rồi xuống ngồi chơi chỗ chú Thiện Hải. Con Ki-nô chạy lại quấn quýt như vẻ rất mến chư Tăng. Con chó phóc Nhật nhỏ nhắn, lông dài, lai màu đen tuyền và xoáy lưng của chó Phú Quốc trông thật đặc biệt. Một con chó ở chùa Ni được đặt tên Ki-nô, nếu lỡ líu lưỡi nói lái lại thì sao ta? Chắc không có ai líu lưỡi ở đây mà lo...

 

Trong khi tôi đang tìm cách đi gặp Phật tử Đăng Ngọc thì may sao bà đang ở Tịnh xá Ngọc Tiên. Tôi cám ơn chú Thiện Hải đã chỉ rồi vội đi lên lại để gặp bà. Bà cụ nghỉ chỗ sư cô Thức, tuổi đã bảy tư (74), răng rụng gần hết, mắt kém, nhưng còn minh mẫn. Tôi chào bà cụ rồi hỏi thăm về hòa thượng Giác Linh. Bà kể rằng trước Giải phóng sư Giác Linh ra đây hạ thủ công phu, tu chỗ am Nhân Nhượng gần lăng Mạc Cửu. Đến sau Giải phóng am Nhân Nhượng bị giặc Miên phá, sư Giác Linh mới lên lên chỗ đất của 2 ông bà xin cất cốc ở tu. Từ đó hai ông bà Thiện Duyên và Đăng Ngọc trở thành 2 vị hộ pháp cho sư Giác Linh. Sư tu rất tinh tấn và khổ hạnh lắm. Sau này sư bảo cho Thiện Duyên và Đăng Ngọc biết một điều: “Hồi đó sư cứ rán tu ngày tu đêm, cực muốn chết. Bây giờ sư biết rồi: chỉ giữ tâm an lạc thôi!”.

 

 

 

Cốc hòa thượng Giác Linh trên sườn núi Tiểu Tô Châu.

Theo lời dặn của hòa thượng, cốc đã được các đệ tử phá bỏ sau khi ngài mất.

 

 

Bà Đăng Ngọc còn kể về mấy lần bà gặp đức Thượng tọa Nhị Tổ, được ngài chỉ dạy những gì… Nhắc lại lời thổ lộ của hòa thượng Giác Linh, bà nhận định:

 

– Như vậy là sư Giác Linh đã phá được cửa ải khó khăn nhất của người tham thiền!

 

Cửa ải khó khăn nhất của người tham thiền chính là Kiến tánh Không, là biết được bản tâm, nhận ra chơn ngã. Một bà cụ nhà quê ở trên núi lại nói ra một câu nhận xét như thế, thật là không đơn giản. Tôi ngẫm nghĩ về pháp tu của sư thúc mình: Pháp tu Chỉ giữ tâm an lạc là một pháp hộ trì tâm, sống với tâm. Phật pháp đã dạy rõ: Tâm an lạc nghĩa là tâm Niết-bàn, là tâm Phật ai cũng có. Người đời lấy dục vọng làm lạc thú, người có đạo xét thấy các lạc thú ở đời đều lắm phiền toái, mệt nhọc, dơ bẩn, thấp thỏi, nên tìm đến cái vui an ổn của tâm Niết-bàn. Như nay ai đi theo hòa thượng Giác Linh thì đâu đợi đến khi kiến tánh mới tu được. Ngài đã khai sơn phá thạch, tu ngày tu đêm vất vả, chiến đấu với vọng tưởng rất cực khổ, rồi ngộ được pháp; người sau lấy kinh nghiệm của ngài mà ứng dụng, chỉ giữ tâm an lạc thôi! Vậy thì đừng lụy vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà sống như đứa trẻ trong sáng, để tâm an ổn tự nhiên. Tâm đó là thiền, không cần ngồi ngày ngồi đêm. Ngược lại, kẻ không có đạo lý sẽ lấy ngồi ngày ngồi đêm mà tính công, dẫu ngồi được 10 đại kiếp như ngài Đại Thông Trí Thắng thì vẫn chưa thành Phật!

 

 

 

Phật tử Đăng Ngọc, hình chụp tại Tịnh xá Ngọc Tiên,

mặc tạm áo giới của một Phật tử khác.

 

 

Thật may vì đã gặp được người biết chuyện trên núi của hòa thượng Giác Linh. Giác ngộ là đầu nguồn của Phật đạo, chỗ thâm nhập đạo lý của các nhà sư là chánh nhân cho mọi thành tựu của họ. Viết về những nhà sư chơn tu thật học cần phải viết đến chỗ này, nếu không cũng phải nêu được công hạnh của họ. Cả 2 việc đó, Phật tử Đăng Ngọc đã nói cho tôi biết rõ rồi.

 

Xong câu chuyện về hòa thượng Giác Linh ở Tịnh xá Ngọc Châu – Châu Đốc, tôi viết tiếp về lần đãqua hướng Núi Sập để ghé thăm một nơi từ lâu đã nghe tiếng, nơi ấy có một kỳ nhân…

 

 


[1] Sư Giác Tạng.

 

-------------------------------------------------

 

 

Các bài liên quan