NỐI TRUYỀN THÍCH-CA CHÁNH PHÁP, ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ VIỆT NAM.

Đạo phật khất sĩ / Tư tưởng - Văn hóa / Tư tưởng bộ Chơn Lý

Tâm Nguyên , Thứ Ba 16-12-2014

Khảo cứu bộ Chơn Lý (tt)

 

Hành Vân

 

 

III. CÁC PHẠM TRÙ TƯ TƯỞNG CỦA BỘ CHƠN LÝ:

 

Ra đời tại Nam Việt, nơi 2 nguồn Phật pháp Bắc truyền và Nam truyền “cụng đầu”, Đạo Phật Khất Sĩ đã kế thừa cơ duyên, vận dụng Thích-ca Chánh pháp phát triển thành một nền Phật giáo lớn. Lưu ý nhận định này không có hàm ý như lâu nay mọi người thường nói là Tổ sư Minh Đăng Quang đã tổng hợp 2 phái Nam, Bắc Phật giáo để sáng lập thành Phật giáo Khất Sĩ. Xét ra đây là ý kiến của người sau, có phần không chính xác, không phải là lời của ngài Minh Đăng Quang. Phật giáo Khất Sĩ đã hình thành và phát triển độc lập như một rừng cây Bồ-đề mạnh mẽ. Nhưng khi tùy nghi vận dụng những tinh hoa của Thích-ca Chánh pháp là cội nguồn chung, thì thấy giáo pháp Khất Sĩ như là có vay mượn của Nam truyền và Bắc truyền. Nếu dùng mắt trạch pháp xem rõ, sẽ thấy Giới bổn Tăng Khất Sĩ và Giới bổn Ni Khất Sĩ khác với 2 bộ Giới bổn trong Tứ Phần Luật, Môn oai nghi Sa-di và Những câu chú khác với của Bắc truyền, Y bát Khất Sĩ khác hẳn của Nam và Bắc truyền; các phép Thiền định Khất Sĩ rất phong phú và đều là những kinh nghiệm thật tế, trong đó có phép Ngũ định là Niết-bàn, không có ở Nam hay Bắc; Tịnh độ Khất Sĩ ở tại đây và ngay bây giờ, không cần đọc tụng nhịp nhàng chờ đến chết để hy vọng được về với Phật; các tịnh xá được kiến thiết với trung tâm là 3 nhà Phật, Pháp và Tăng, trong đó nhà Phật nhỏ nhất (vuông 8 mét bị vạt 4 góc), thông 8 mặt không chướng ngại, xây 2 tầng 12 mái xen nhau như một tòa sen lớn đang nở giữa biển đời… Như thế, phải ghi nhận Phật giáo Khất Sĩ là Thích-ca Chánh pháp, chứ không nên nói đạo Khất Sĩ là tổng hợp của Nam truyền và Bắc truyền, vì có thể sẽ đưa đến một số hệ quả không tốt.

 

Cũng như xây một tòa nhà, không phải cứ đem cát, đá, gạch, xi-măng, sắt, ngói, sơn nước và kính trộn lộn xộn với nhau là được, mà phải có kỹ thuật và nghệ thuật. Nếu không có kỹ thuật và nghệ thuật, cát, đá, gạch, xi-măng, sắt, ngói, sơn nước và kính trộn lộn xộn với nhau sẽ thành một đống, không biết là thứ gì! “Kỹ thuật và nghệ thuật” ở đây là đạo phong của Khất Sĩ, được định dạng từ hồn Khất Sĩ, đã lưu truyền phần nào qua bộ Chơn Lý. Còn “cát, đá, gạch, xi-măng, sắt, ngói, sơn nước và kính…” là các pháp bảo của vũ trụ, lâu nay bị ngộ nhận là Bắc truyền, Nam truyền; và “tòa nhà” là Đạo Phật Khất Sĩ.

 

 

 

Bìa trước của một quyển Chơn lý in năm 1952, trên đầu bìa có 2 câu…

 

 

Trong dòng sống trôi mãi, tâm chơn đã ứng theo các duyên để biến hiện vô cùng.[1] Đạo Phật Khất Sĩ được hình thành từ tâm đức “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp”. Chơn lý Hòa Bình I – Đoàn Du Tăng đã thuyết minh:

 

“d) Đạo đây là chơn lý võ trụ của chúng sanh, chớ không phải tông giáo tư riêng; kẻ sống đúng chơn lý kết quả rốt ráo giác ngộ gọi là Phật; theo tiếng thông thường cũng kêu là Đạo Phật. Khất sĩ chúng tôi tập nối truyền Chánh pháp của Phật Thích-ca Mưu-ni, xuất hiện nơi xứ Việt Nam này, với mục đích cố gắng noi y gương Phật, thay Phật đền ơn, và để đáp nghĩa chúng sanh trong muôn một, đang thời nạn khổ.”

 

Cũng ý nghĩa đó, vào năm đầu xuất bản, trên đầu trang bìa của các quyển Chơn lý đã nêu rõ:

 

          “Nối truyền Thích-ca Chánh pháp

              Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam”

 

Đây là tuyên ngôn lập đạo của khất sĩ Minh Đăng Quang. Tuyên ngôn này có câu trên nêu nguồn nhân và câu dưới chỉ biển quả, cả 2 đều trong một tâm chơn. Tuyên ngôn đó đã được các tịnh xá tôn trí nơi cổng hoặc trong chánh điện, để cho bao người được biết nhân quả tương đối của đạo Khất Sĩ. Đây là ý chí của chư Phật Thánh, cũng là ứng với thời duyên của chúng sanh muôn loại, không phải dục vọng tầm thường, không phải chuyện đơn giản. Từ không mà trở thành có, thành một nền Phật giáo Khất Sĩ như hôm nay, thật kỳ diệu, đúng là Chơn không Diệu hữu!

 

Công đức lớn nhất và cũng là thành công lớn nhất của khất sĩ Minh Đăng Quang chính là bộ Chơn Lý. Bộ sách này đã kiến lập thượng tầng cơ sở của Đạo Phật Khất Sĩ. Qua bộ Chơn Lý, tư tưởng Minh Đăng Quang được định hình là một hệ tư tưởng, độc lập, thẩm chiếu toàn bộ vũ trụ nhân sinh. Cũng có thể gọi hệ tư tưởng này là hệ tư tưởng Khất sĩ, hoặc gọi là hệ tư tưởng Chơn lý.

 

Nội hàm nơi bộ Chơn Lý có những tư tưởng gì, chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu như sau:

 

 

01. Tư tưởng Vũ trụ quan:

 

Đầu tiên, Chơn lý số 01 vẽ ra một bối cảnh vô cùng vô tận là vũ trụ.

 

Đây là nền tảng của mọi sự sống, cũng là cơ sở để Phật pháp kiến thiết mọi tư tưởng. Quả thật tầm nhìn của nhà Phật là khắp không gian và khắp thời gian, gồm 10 phương Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc, Tây Bắc, phương trên, phương dưới và 3 đời quá khứ, hiện tại, vị lai.

 

Theo đạo nhãn của mình, tác giả đã trình bày về vũ trụ một cách khoa học, đúng như tên bài là Võ Trụ Quan, lần lượt triển khai qua 10 mục Thể của võ trụ, Nhơn duyên của mỗi quả địa cầu, Hình thể quả địa cầu, Ánh sáng của quả địa cầu, Miếng đất đầu tiên trên quả địa cầu, Sự tiến hóa của nhơn loại trên quả địa cầu, Sau khi quả địa cầu tan hoại, Chúng sanh trong võ trụ, Cái ta trong võ trụChơn lý của võ trụ. Trong vũ trụ thăm thẳm, tối đen, bao la, vô cực, “Những quả địa cầu vô số đếm, hết nổi đến tan, hết tan đến nổi, hoặc lâu hoặc mau, lớn có nhỏ có, tùy theo nhơn duyên không nhất định. Nào chúng ta có biết được hiện có bao nhiêu, lên hay xuống, đang ở chỗ nào; vì chúng ta chỉ là những con vi trùng chết yểu, đối với không gian và thời gian trong võ trụ!”… Tác giả Minh Đăng Quang không mô tả vũ trụ theo hướng siêu hình học, nói về pháp giới quan như truyền thống, là tận hư không biến pháp giới, gồm vô số cõi Phật, biết bao cõi Tam thiên, suốt từ cõi trời cao nhất thấu đến cõi địa ngục thấp nhất…

 

Vũ trụ quan của Chơn Lý được nêu lên đầu tiên với tính cách là cơ sở. Có nghĩa là sân khấu tư tưởng của nhà Phật lớn như vậy đấy! Người đọc Chơn Lý phải đặt mình vào hoàn cảnh đó để đi vào tòa nhà tư tưởng của tác giả, của Đạo Phật Khất Sĩ, đúng như lời khuyên cuối bài viết: “Hãy sống với võ trụ, hãy học hiểu rõ thấu chơn lý, ta sẽ thấy cái ta không còn cách biệt với vạn vật nữa, ta sẽ được an vui!”.

 

Chơn Lý đã được thuyết minh trên tầm mức vũ trụ quan, không phải từ một bối cảnh lịch sử Việt Nam thế kỷ XIX, XX, cũng không dựa vào tình hình Phật giáo Bắc truyền, Nam truyền gì, càng không cần xem xét tình trạng giao thoa văn hóa Đông Tây đương thời chi cho phiền phức… Mỗi bài Chơn lý dù có đề tài lớn hay nhỏ đều được triển khai đến cực đại, maximum, dạy người ta làm Phật, đưa chúng sanh đến bến, nói tới “hết”! Nếu ai vận dụng những quan điểm thông thường của các học giả để tìm hiểu về Đạo Phật Khất Sĩ thì e rằng người ấy đã đứng một bên mất rồi, sẽ không cách nào hiểu biết đúng đắn.[2]

 

 

02. Tư tưởng Chơn lý:

 

        a. Với tư cách là một vị khất sĩ – một chúng sanh – một vi trùng giác đang xin và học trong vũ trụ, khất sĩ Minh Đăng Quang đã thuyết minh chơn lý chỉ cho mọi người, rồi đích thân viết thành sách và cho in ấn phổ biến rất nhiều. Theo ngài, chơn lý là lẽ thật, lẽ thật nơi sự đã có thật, và loại sách Chơn lý chẳng có thiên tư, không một chủ ý, chẳng có ẩn ý chút nào. (cuối bài Nguồn Đạo Lý)

 

Phải lấy tư cách khất sĩ để đến với chơn lý, đại đồng với muôn loài vạn vật. Phải lấy tư cách khất sĩ để hiển thị nghĩa chúng sanh, đang chung sống trong vòng tay của bà mẹ vũ trụ. Phải lấy tư cách khất sĩ để thể nhập tánh duyên khởi, mà muôn loài đã và đang xin lẫn nhau, sống cho nhau, nương cậy nhau cùng tiến hóa. Phải lấy tư cách khất sĩ để phát huy giác ngộ, làm chủ càn khôn, chăm sóc vũ trụ…

 

 

        b. Qua 69 Chơn lý của khất sĩ Minh Đăng Quang, người đọc nhận ra rằng:

 

Chơn Lý nêu những lẽ thật mà ai cũng sẽ nghiệm ra, không phải là lời dạy riêng của một đức Phật, hay bậc Bồ-tát, Thánh Tăng, Lạt-ma, Thượng sư, Chúa tể… nào. Tác giả của Chơn Lý không cố dạy ai hết, ngài đứng trên lập trường Hoa Nghiêm bình đẳng Chơn lý đại đồng để phát biểu.

 

Chơn Lý là kim chỉ Nam của Đạo Phật Khất Sĩ. Chơn Lý được hiển thị đã phá bỏ những ranh giới cục bộ của Phật giáo Nam truyền và Bắc truyền (địa phương), những kỳ thị của Đại thừa và Tiểu thừa (tư tưởng), những phân biệt Kinh Luật Luận theo nhãn quan của phàm tình hoặc Thánh giải (nhận thức).

 

Chơn Lý nêu cao Chánh pháp của đức Phật Thích-ca Mâu-ni là Chơn lý của vũ trụ, là Diệu pháp Liên hoa ở mỗi pháp. Kinh Pháp Hoa truyền dạy tri kiến Phật cho hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát để cho các vị ấy thành Phật. Mà một đức Phật, nơi thân là Giới, nơi tâm là Định, nơi trí là Huệ, nơi 3 cõi là Giải thoát, nơi các pháp là Giải thoát tri kiến… vậy.

 

Chơn Lý nhấn mạnh tính chất nguyên thủy của đạo Phật là đạo của chúng sanh muôn loại, là đạo chung mà tất cả các đạo giáo đều sẽ quy về, chứ không phải là tôn giáo, trường phái, chủ nghĩa riêng tư nào để bảo thủ.

 

 

        c. Trong bài Chơn lý số 23 – Học Chơn Lý, tác giả đã tập trung thuyết minh nhiều về Chơn lý:

 

– “Chơn lý là lẽ thật yên lặng tự nhiên của buổi đầu, là nguồn gốc của sự phát sanh ra vạn vật, chúng sanh và các pháp, lại cũng là chỗ đến của vạn vật, chúng sanh và các pháp.”

 

– “Người thấu hiểu chơn lý nào phải là người mầu nhiệm khác lạ chi chi, chính là một người tầm thường, một người như bao nhiêu người khác. Nhưng nhờ đứng ra ngoài sự giả dối, được ở trong cảnh thật mà biết rõ cái thật, và khi nhìn ngó vào nơi cảnh giả, người thấy ai ai lầm lạc mê muội là chỉ bảo dắt dùm. Lời nói của người, thiên hạ tin nghe, và thấy ích lợi nên mới cho là Pháp bảo quý giá vô cùng.”

 

– “Khi xưa, dưới gốc cây Bồ-đề chánh giác, đức Phật nói lý Hoa Nghiêm, làm cho bậc trời người ngơ ngác, chẳng hiểu chi cả. Kinh Hoa Nghiêm là chơn lý của Phật giác ngộ, là lẽ thật rất thường, thế mà khi đem cái thường thật ấy nói ra thì không ai hiểu. Ấy bởi chúng sanh quá say đắm, lạc lầm, chấp lấy cái thấy nghe nơi tội lỗi làm quen tâm trí, cho đó là thật của mình, là chánh phải trúng hay, thì nào có nghe được lời chơn thật ngay thẳng của Phật! Vì vậy Phật ngài mới phân ra ba thừa giáo lý, hạ pháp thấp xuống, chìu chuộng nâng đỡ, dìu dắt chúng sanh đi lên từ nấc, cho đến đất bằng hợp lý hay Phật thừa.”

 

– “Đối với chơn lý lẽ thật hay kinh Hoa Nghiêm thì không có chi là sự học cả, vì cái thật nó đã sẵn có trước mặt ta rồi. Cái thật ở nơi mọi chỗ, thế mà chúng sanh nào có thấy chi đâu! Từ ác đến thiện, từ nhỏ đến lớn, họ chỉ thấy cái ta là sự vật thôi. Dầu thần nhãn, thiên nhãn cũng không thấy được chơn lý, huống chi là nhục nhãn mắt phàm tăm tối!

 

Tất cả các pháp là để đến với Hoa Nghiêm.

Tất cả giáo lý là để đến với chơn như.

Tất cả sự học là để đến với chơn lý.”

 

– “Chơn lý tức là trường đại học của bậc thượng trí. Mà muốn học, ắt chúng ta phải giải thoát những buộc ràng, lìa nhà cửa thế tục, xa cha mẹ trần gian, thân phải trong sạch, tâm được yên lặng, thì trí mới huệ sáng. Nghĩa là phải xuất gia giải thoát làm khất sĩ, nhập đạo tràng giáo hội, vừa học vừa tu. Học tu tuy cực nhọc hơn buổi ăn chơi chớ thật là trung dung mạnh khỏe, và một kiếp tu hành ngàn đời rảnh khổ, một thời ngộ đạo vạn thuở an vui.”

 

– “Chơn lý là trường học chung của tất cả, chơn lý không phải là đời hay đạo. Chơn lý không phải là tông giáo hay đảng phái, chủ nghĩa, giáo phái nào. Chơn lý không phải là một vị Phật, một vị trời nào! Chơn lý không phải là tên Chơn lý, Lẽ thật gì cả; chỉ mượn danh từ tạm gọi để phân biệt, nên kêu là chơn lý thôi! Cũng như tiếng Phật, nghĩa tạm phân biệt là sự giác ngộ vậy. Chơn lý là võ trụ, là đại đồng của chúng sanh tất cả. Trong chơn lý không có sự mê tín nơi duy vật, duy thức, hoặc duy tâm; không có sự mê tín nơi người, nơi giáo lý, nơi linh nghiệm, nơi sự vật chi chi… và cũng không vất bỏ một cái gì cả. Đúng chơn lý là tự nhiên, cái tự nhiên sống mãi đời đời. Cái chơn lý tự nhiên ấy là trường học của tất cả chúng ta vậy!”

 

 

        d. Thỉnh thoảng, trong các bài Chơn lý khác, khất sĩ Minh Đăng Quang cũng đã giải nghĩa Chơn lý:

 

– “Chính nghĩa hai chữ Chơn lý: Chơn là không vọng tự nhiên, Lý là lẽ, lẽ thật tự nhiên. Chơn như tự nhiên là gốc vốn nguyên xưa. Nếu ta đang rối khổ mà hiểu được lẽ tự nhiên chơn như là sẽ hết khổ.” (CL. số 02)

 

– “Chơn lý cũng tức là công lý chớ không phải là pháp quyền giáo phương tiện.” (CL. số 38)

 

– “Chơn lý là lẽ thật trong võ trụ, từ tứ đại địa cầu sanh ra cỏ, cây, thú, người, trời, Phật. Lẽ thật ấy là tiến, là sống, mà chánh pháp của chư Phật là sự chỉ rõ cách tiến đến quả Phật cuối chót.” (CL. số 25)

 

 

        e. Loại sách Chơn lý được sáng tạo và tư tưởng Chơn lý được thuyết minh vào lúc nền văn minh của nhân loại được phát triển cao, bởi duyên đã đủ, thời đã đến nên hoa khai quả kết vậy.

 

 

3. Tư tưởng Khất sĩ:

 

Thời cổ đại, xã hội Ấn Độ đã phân chia 4 giai cấp: Bà-la-môn, Sát-đế-lợi, Vệ-xá và Thủ-đà-la, tương đương 4 hạng: Giáo sĩ, Chiến sĩ, Thường nhân và Tiện dân. Đến trước thời Phật giáo ra đời, trong xã hội Ấn Độ đã xuất hiện giới Sa-môn, là những người sống không gia đình. Họ là giới Tu sĩ đúng nghĩa, khi dần dần trở thành số đông đã tạo ra trào lưu “Phản Vệ-đà”, một trào lưu tư tưởng cách mạng, đối kháng tư tưởng của các bộ Vệ-đà đã in sâu trong xã hội Ấn Độ đương thời.

 

Theo giai cấp Sa-môn ra đời, Ấn Độ xuất hiện các trường phái triết học – tôn giáo như Hoài nghi, Khoái lạc, Cảm hứng, Tất nhiên, Tâm thường hằng, Kỳ-na... Trong bối cảnh cách mạng tư tưởng đó Phật giáo đã ra đời!

 

Ban đầu, mọi người nhìn nhận đức Thích-ca cùng các đệ tử của ngài là những Sa-môn không gia đình, chuyên tu theo lý tưởng. Do vậy họ gọi đức Thích-ca là “Sa-môn Cồ-đàm, Sa-môn Gotama” và gọi các đệ tử của ngài là những Sa-môn họ Thích-ca (Sa-môn Thích tử), những Sa-môn đầu trọc (lời tục). Nhưng đức Thích-ca không nhận mình và hàng đệ tử là Sa-môn thông thường, ngài tự xưng là Như Lai – bậc trở về Chơn như và gọi các đệ tử là Tỳ-kheo – các khất sĩ.

 

Nghĩa của từ Tỳ-kheo là Khất sĩ, là Người xin, là Kẻ xin, (còn 2 nghĩa Khủng bố ma và Phá điều ác là 2 nghĩa do các nhà Phật học diễn dịch thêm). Các vị khất sĩ xin cái gì? Họ đã xin từ thuở nào như muôn loại và bây giờ họ không muốn xin một cái gì của 6 trần nữa[3], nhưng khi tạm sống tu học và tô đắp đạo cho đời thì họ xin cái nghèo vật chất với xin cái giàu tinh thần. Họ đi xin ăn để làm cớ hóa duyên đạo tâm nơi người đời, nếu xin không được gì thì ăn tạm nắm lá cây, uống hớp nước suối cũng qua ngày, giữ bổn phận xin giáo pháp của đức Phật để tu học. Nếu nói “Khất sĩ là người xin ăn” là không đúng ý và nghĩa, có hàm ý coi thường.

 

Tản mạn đôi chút, còn nói ngay vấn đề thì từ Khất sĩ của tác giả Minh Đăng Quang phải được xác định trong những phạm trù ý nghĩa như thế này:

 

– “Khất sĩ là học trò khó đi xin ăn để tu học. Khất sĩ là cái sống của chơn lý võ trụ, mà tất cả chúng sanh đều là học trò cả thảy. Bởi chúng sanh là cái biết, từ chưa biết đến đang biết, và cái biết sẽ hoàn toàn ngơi nghỉ.”

 

– “Chính Phật là Vô thượng sĩ, là ông thầy giáo có sự học không ai hơn! Còn Tăng là khất sĩ, là học trò đang đi du học khắp nơi cùng xứ, học nơi thầy, nơi bạn, nơi trò, học với tất cả chúng sanh, vạn vật, các pháp, học với Phật Pháp Tăng ba đời, học từ xóm làng tỉnh xứ đến khắp các xã hội, thế giới chúng sanh, học nơi chữ viết, nghe lời nói, học bằng lo lắng nghĩ ngợi, học nơi sự thật hành, học nơi cỏ, cây, thú, người, trời, Phật, đất, nước, lửa, gió… Tạm sống xin ăn tu học đi ngay chơn lý chẳng chút lảng xao, không màng khó nhọc. Và bá tánh là cư sĩ kẻ đã lỡ hội đường, hoặc vì tai nạn nên phải đành kham thiếu thốn, tập học ở một chỗ nơi để đặng chờ ngày giải thoát.”

 

Hai trích đoạn ở phần đầu bài Khất Sĩ này có đoạn đầu nói về lý, đoạn sau nói về sự. Với những ý nghĩa đã nêu trong 2 đoạn, thì từ Khất sĩ của tác giả Minh Đăng Quang chính là từ Bhikkhu của Phật giáo Ấn Độ,(được phiên âm Hán – Phạn là Tỳ-kheo, Tỷ-kheo, Tỳ-khưu, Tỷ-khưu), nhưng với đầy đủ những ý nghĩa của Thích-ca Chánh pháp. Xưa nay mọi người cố hiểu Bhikkhu là nhân tu để thành A-la-hán là quả chứng. Nhưng theo ngài Minh Đăng Quang thì Khất sĩ lại là nhân tu để thành Vô thượng sĩ là quả chứng. Trong tiến trình từ Khất sĩ đến Vô thượng sĩ, quả A-la-hán là một nấc thang phải qua, không có thành kiến là Tiểu thừa hay Đại thừa gì, cũng không lầm chấp cho rằng A-la-hán đã bằng với Phật.

 

Thuyết minh về vị trí của Khất sĩ, có 3 bậc hay 3 hạng người được ghi nhận là Vô thượng sĩ, Khất sĩ và Cư sĩ. Cả 3 đều là chơn lý của vũ trụ chứ không phải do ngài Minh Đăng Quang tự ý bày ra. Vô thượng sĩ là Phật, Khất sĩ là Tăng (là Bhikkhu), Cư sĩ là bá tánh dân chúng. Những phần sau của bài Khất Sĩ tiếp tục nêu lên:

 

– “Tiếng “Khất” có nghĩa là xin, lẽ xin là chơn lý của võ trụ, mà chúng sanh, kẻ thì xin vạn vật để nuôi thân, người thì xin các pháp để nuôi trí. Ai ai cũng đều là kẻ xin cả thảy...”

 

– Khất sĩ có ba bậc: khất sĩ Thinh văn, khất sĩ Duyên giác, và khất sĩ Bồ-tát, là 3 hạng khất sĩ đang học, đang tu và đang dạy…

 

– “Khất sĩ không phải dốt nát mê muội, ác hung tà xảo như người khất cái. Bởi khất cái là hạng mạt lưu, còn khất sĩ lại là bậc tối thượng vô song.”

 

– “Khất sĩ đứng vào hàng Tăng bảo, học Pháp bảo để làm Phật bảo.”

 

 

Như trên giải bày từ Khất sĩ là chỉ người, nhưng đồng thời từ Khất sĩ cũng chỉ cho Đạo, một con đường tất yếu, một lẽ sống đúng đắn của chư thiên và nhân loại. Nơi bài Khất Sĩ cũng đã trình bày yếu lý:

 

– “Đạo Khất sĩ không phải là mới, nói cho đúng: Ai ai cũng là khất sĩ cả thảy, vì ai mà không có gặp được sự học mỗi ngày, ai mà không có sự xin nhau từ chút!”

 

– “Đạo Khất sĩ là chơn lý chánh pháp của trường võ trụ, là đạo Bát chánh Niết-bàn, không bậc hiền Thánh nào dám khinh rẻ, không kẻ quỷ ma nào được thấu đạt, chánh giáo cao siêu hơn hết. Kẻ hành đúng sẽ thành Phật, người hành trật sẽ làm ma. Thật là quý nhất trong đời…”.

 

Đến bài Đạo Phật Khất Sĩ đã giải bày rõ về những quan điểm sáng lập đạo của khất sĩ Minh Đăng Quang. Bài Đạo Phật Khất Sĩ gồm 7 bài riêng[4], cuối mỗi bài đều có một tiếng thưa “Mô Phật” như một lời trần tình khiêm tốn. Bảy bài hình thành bài Đạo Phật Khất Sĩ là:

 

1. Đạo Phật

2. Chủng Tộc Sa-môn

3. Việt Nam Đạo Phật Không Có Phân Thừa

4. Quy Y Thọ Giới

5. Giáo Lý Khất Sĩ

6. Nguồn Khất Sĩ Nam Việt

7. Tôi Phải Làm Sao?

 

Mở đầu bài Đạo Phật (nói trên) tác giả viết:

 

– “Đạo Phật là con đường đi đến quả Phật giác chơn. Con đường ấy là Khất sĩ. Họ của chư Phật ba đời là Khất sĩ. Khất sĩ là lẽ thật của chúng sanh, mục đích của chúng sanh. Khất sĩ là đến với giác chơn, toàn học, biết sáng tự nhiên, hết mê lầm vọng động...

 

Đạo Phật không phải là học Phật hay Phật pháp. Vì Phật pháp là giáo lý giác ngộ phương tiện tùy duyên của Phật dạy cho mỗi chúng sanh khác nhau, còn học Phật là kẻ đang học giáo lý của Phật mà chưa thật hành. Trái lại, đạo Phật là sự thật hành để thành Phật, là sự tu giống y theo Phật! Con đường ấy là Khất sĩ, là Tăng, là đệ tử Phật sau này, là giới luật y bát chơn truyền vậy.”

 

Tiếp tục, bài Giáo Lý Khất Sĩ tác giả viết:

 

– “Khất sĩ là học trò khó ăn xin, tìm học pháp lý giải khổ cho mình và tất cả, để tu tập hành theo cho kết quả. Khất sĩ theo với hết thảy, học với hết thảy, mục đích toàn giác toàn năng, không riêng tư phân biệt ai ai. Khất sĩ là chúng sanh chung, không tự nhận mình là nhơn loại hay gia đình, xã hội, thế giới, chủ nghĩa đạo giáo nào, vì lẽ chúng sanh là phải tiến lên mãi, không ở một mực. Khất sĩ xin học với tất cả lẽ phải nên, và xin theo với tất cả sự ích lợi, mãi mãi cho đến trọn đời, chẳng một nơi bỏ sót. Khất sĩ không ta, không của ta, chẳng tự cao chia rẽ, cùng tự xưng mình dạy người, hơn ai bằng lời nói, hoặc chỗ ngồi cao, địa vị lớn. Khất sĩ thường lặng thinh và không tranh luận, gọi mình là “trò” với tất cả, khi có ai hỏi đến thì chỉ nói chỗ mà mình đang tu hành chút ít thôi. Khất sĩ giữ giới thanh tịnh, tập cấm khẩu và tu thiền định, không làm mích bụng người, gìn thiện cảm với tất cả. Khất sĩ không tự gọi là dạy ai hết, và cũng không trị ai hết, vì tất cả chúng sanh là như nhau có một, (Thế tôn chẳng tự tôn).”

 

Với nhiều cách khác nhau, trong những bài Chơn lý khác nhau, ngài Minh Đăng Quang đã nhấn mạnh rằng đạo Khất sĩ chính là đạo Phật, nên gọi chung luôn là Đạo Phật Khất Sĩ. Khi thêm tên địa phương nó hình thành vào sẽ là Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam vậy.

 

Đó là tư tưởng Khất sĩ của ngài Minh Đăng Quang, trong bộ Chơn Lý.

 

 

4. Tư tưởng Nhất thừa:

 

Phật giáo nhất thừa có 2 cách hiểu: hoặc là Phật giáo một thừa, không có 2 hay 3 thừa tạm gì cả; hoặc là Phật giáo trọn vẹn, đúng nghĩa là đạo Phật. Khi người học kẹt nơi cái ngọn (thừa này thừa nọ) thì sẽ được chỉ đến gốc: “Chỉ có một Phật thừa thôi!”. Đến khi người học tiếp tục kẹt nơi cái gốc (bảo thủ Phật) thì sẽ được chỉ chỗ giải thoát cả đạo và đời. Chơn lý Pháp Hoa có đoạn viết:

 

– “Nơi đây về quyển Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, cũng là pháp mà chúng sanh bậc cao mong muốn, nên Phật mới nói theo lòng họ, để chỉ bước con đường đi của họ. Thế nên khi mở lời nói kinh ấy, là đức Phật ngài kêu ông Xá-lợi-phất mà nói rằng: Cái diệu pháp nó ở ngoài cái lý trí phân biệt, nó không ở trong phạm vi của lý trí, nên phải có cái phương tiện của đức Phật mới thấu được nó. Ta phải dùng mọi phương tiện mới giảng giải rõ được, như giảng giải, chỉ dạy, diễn thuyết, so sánh, thí dụ… đủ cách ấy là chính vì muốn truyền cho chúng sanh sự thấy rõ biết cái trí huệ của Phật, cho nên Phật mới hiện ra ở thế. Chỉ có một thừa của Phật là Phật thừa chớ không có thừa nào khác cả, nhưng vì tánh tình chí hướng, tánh chất lý tưởng của họ khác nhau, nên các ngài sẽ phải dùng biết bao phương tiện nhơn duyên lý cớ, mà làm cho họ tin và hiểu rõ ràng.” (CL. số 54)

 

Cuối cùng, “Một thừa, một pháp trong tự nhiên còn chẳng có, huống hồ dốt nát gì mà tìm đặt tên lộn xộn!” (CL. số 47), và: “Việt Nam đạo Phật không có phân thừa” (CL. số 63). Trong các hàng Phật tử, thái độ cần có là không phân thừa, vì thừa là trình độ tâm trí chứ không phải là một bản ngã để tranh chấp, tất cả đều tích hợp về chơn như, đều không ra ngoài bầu vũ trụ. Bài Nguồn Khất Sĩ Nam Việt đã khẳng định:

 

– “Khất sĩ mặc dầu là đang mang hình thức đạo Phật, nhưng Khất sĩ cũng cố sức để hiểu rằng: Phật là giác chơn, là cái biết thật tự nhiên, là nghĩa lý của tiếng Phật, mục đích của cái biết nơi mình, chớ không phải mê tín mờ quáng, mà tự trói mình trong chữ Phật, tiếng Đạo, hay tông giáo riêng biệt! Nghĩa là, Khất sĩ là đang học pháp Phật, mà cũng như là đang học với các pháp lý khác, học chung với các pháp trong võ trụ, tách mình xa với tất cả sự trói buộc, mực giữa không không, không dính nhập vào riêng với ai hết! Bởi lẽ Khất sĩ là đang tập tu tìm học, lẽ phải nào, sự ích lợi nào, đời đạo cái chi tốt đẹp là Khất sĩ sẽ về theo tu học. Quyến thuộc của Khất sĩ may ra tạm có, ấy là những ai đã nhận ra và thật hành đúng chơn lý Khất sĩ như nhau; chớ ngoài ra, tất cả chúng sanh là bạn chung, đang sống chung tu học.”[5]

 

Dùng chức năng Find and replace (Ctrl + H) để tìm từ trong văn bản Chơn Lý toàn tập, ta thấy có 140 từ Cái biết, 145 từ Cái sống, 278 từ Võ trụ, 360 từ Đạo đức, 453 từ Chơn lý, 497 từ Khất sĩ, 549 từ Luật, 653 từ Tăng, 1.652 từ Học, 1.911 từ Tu, 3.142 từ Phật, 3.438 từ Ta, 5.821 từ Có, 5.923 từ Không…[6] nhưng không có từ Nhất thừa nào, chỉ có 2 từ Một thừa đã trích dẫn ở trên. Vì ngài Minh Đăng Quang không xem trọng về Thừa, nên mục Tư tưởng Nhất thừa này cũng là tạm nói với những ai còn xem trọng.[7]

 

 

 


 

[1] Lý Chơn như duyên khởi.

 

[2] Kiến giải này rất quan trọng.

 

[3] Vận Tam bảo lấy ra đối trị

     Dứt 6 trần tức thị chơn tu!

     (Tổ Thiên Thai)

 

[4] Chú ý thêm tên chung Đạo Phật Khất Sĩ vào trước bài Đạo Phật đầu tiên.

 

[5] Ngay cả pháp giới Phật cũng phải vượt qua, để thật sự là Phật!

 

[6] Những số lượng này chưa chính xác 100%, do văn bản còn sai chính tả, chỉ dẫn chứng tạm để hiểu.

 

[7] Ví dụ sáng tạo các danh xưng Khất sĩ Đại thừa hay Khất sĩ thừaBhikkhuyana chẳng hạn…