NỐI TRUYỀN THÍCH-CA CHÁNH PHÁP, ĐẠO PHẬT KHẤT SĨ VIỆT NAM.

Đạo phật khất sĩ / Tư tưởng - Văn hóa / Khảo cứu bộ CHƠN LÝ

Tâm Nguyên , Thứ Hai 24-11-2014

 

Khảo cứu bộ CHƠN LÝ

 

Hành Vân

 

I. LỜI GIỚI THIỆU:

 

Chơn Lý là bộ sách do Tổ sư Minh Đăng Quang sáng tác trong quá trình 7 năm ngài hoằng pháp, từ năm 1947 đến năm 1954. Thời gian chính thức viết và xuất bản bộ Chơn Lý là trong 2 năm, từ năm 1952 đến đầu năm 1954. Đây là bộ sách căn bản của Giáo pháp Khất Sĩ. Tất cả các vị khất sĩ nào đã sanh ra trong Giáo pháp Khất Sĩ đều phải nương theo đây để được trưởng thành. Đọc Chơn Lý, nghe Chơn Lý, học theo Chơn Lý, tu như Chơn Lý, thì cuộc đời vị khất sĩ đâu còn phải lo thiếu sót gì nữa. Bởi vì cả bảy đạo quả Thanh văn, Duyên giác, Bồ-tát và Như lai đều không ngoài bộ Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang. Những ai thấy rõ điều này, hằng tin tưởng điều này, trọn đời sống với chơn lýmà đức Tổ sư đã dạy, ắt được vô lượng lợi ích cao thượng.

 

Khi đọc hay nghe bộ Chơn Lý, mọi người đều khâm phục và tôn trọng những tư tưởng siêu tuyệt, cao thượng, chân chánh trong các bài do Tổ sư Minh Đăng Quang viết. Ai ai cũng đều đồng cảm nhận là Tổ sư Minh Đăng Quang đã chỉ dạy rất rộng rãi, sâu sắc, đúng lý, hợp tình… mà nếu ngài không phải là bậc đã đạt đạo thì khó có thể viết được bộ sách tầm cỡ đó. Như vậy, giá trị của bộ sách quý này đã được đại chúng trân trọng khẳng định. Phật giáo Việt Nam trong thế kỷ XX đã sáng tác được bộ Chơn Lý xem như là một dấu son đậm nét về sự thành công tột bực trong lĩnh vực tư tưởng Phật giáo.

 

Nói về việc khảo cứu văn bản bộ Chơn Lý, thì văn bản vốn không phải là chơn lý nên việc này không quan trọng lắm. Nhưng khi xem qua các bộ Chơn Lý đã được xuất bản trước đây, chúng ta thấy vẫn cần phải biên tập thêm để khâu trình bày trong bộ sách này được hoàn thiện hơn. Cũng như mọi việc khác trên đời, ta không cần làm cho bộ sách kim chỉ Nam của Phật giáo Khất Sĩ trở thành láng bóng, cầu kỳ, trau chuốt… để rồi được vào nằm trang trọng trong tủ, mà ít ai muốn đụng đến! Chơn Lý đã được Tổ sư Minh Đăng Quang viết ra để đáp ứng món ăn tinh thần cho đại chúng, nó không phải là của riêng giới học giả. Dĩ nhiên với những giá trị cao quý vô cùng của nó, Chơn Lý tất phải có những hình thức tương xứng.

 

 

 

69 quyển Chơn lý cũ đang được thờ tại Tịnh xá Ngọc Viên – Vĩnh Long

 

 

Quá trình xuất bản sách Chơn lý được biết như sau: Khi Tổ sư viết xong các tập Chơn lý đầu tiên, quý Phật tử hộ pháp đã mấy lần liên hệ xin phép và đem in tại các nhà in Phú Toàn ở Vĩnh Long, nhà in Đại Đồng ở Long Xuyên, nhà in Liên Hiệp ở Sa-đéc. Thời điểm rằm tháng 7 năm Nhâm Thìn 1952 (in tại Đại Đồng), Chơn lý mới có 20 quyển đầu, từ Chơn lý 1 – Võ Trụ Quan đến Chơn lý 20 – Cư Sĩ.

 

 

 

Bìa sau một quyển Chơn lý in vào ngày 9/11/1952

(Ngay trang bìa này đã có mấy lỗi chính tả)

 

 

Đến tháng 4/1953, Tổ sư Minh Đăng Quang thành lập máy in Pháp Ấn tại nhà số 46 đường Thoại Ngọc Hầu thị xã Long Xuyên, tiếp tục in hàng ngàn quyển Chơn lý ấn tống khắp nơi. Trong vòng 10 tháng, máy in Pháp Ấn đã mua giấy in 3 lần: lần đầu vào ngày 25/4/1953 (in 36.000 quyển), lần thứ 2 vào ngày 8/9/1953 (in 50.000 quyển), lần thứ 3 vào ngày 15/2/1954 (in 72.000 quyển)[1].

 

 

 

3 bìa sau của 3 quyển Chơn lý do máy in Pháp Ấn in vào 3 đợt đầu tiên

Ghi rõ máy in Pháp Ấn bắt đầu hoạt động từ ngày mùng 1 tháng 4 năm Quý Tỵ 1953...

 

 

Mỗi đợt in Chơn lý của máy in Pháp Ấn đều kéo dài mấy tháng, với mấy lần xin phép xuất bản, có lẽ do bị giới hạn số lượng sách in. Khi Pháp Ấn in Chơn lý vào ngày12/6/1953 (thuộc đợt thứ nhất), mục lục có 47 quyển, đến ngày 25/7/1953 (cũng đợt thứ nhất), mục lục đã có 60 quyển.

 

 

 

Mục lục Chơn lý do máy in Pháp Ấn in vào ngày 12/6/1953 có 47 quyển.

(Đính kèm bìa ngoài có ghi rõ ngày in.)

 

 

 

 

Mục lục Chơn lý do máy in Pháp Ấn in vào ngày 25/7/1953 có 60 quyển.

(Đính kèm bìa ngoài có ghi rõ ngày in.)

 

 

 

Đợt in thứ 2 bắt đầu vào ngày 8/9/1953, là ngày Đoàn Du Tăng Khất Sĩ Việt Nam khởi hành chuyến hoằng pháp đầu tiên từ Vĩnh Long lên Tân An, Tây Ninh, Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Gia Định, Gò Công… đến ngày 30/12/1953 kết thúc. Trong gần 4 tháng dẫn Tăng đoàn du hành chắc ngài Minh Đăng Quang không viết sách, nhưng Chơn lý trình bày về Đoàn Du Tăng là quyển Hòa Bình đã được hoàn thành trước đó. Vào đợt in thứ 2, mục lục Chơn lý có tới quyển 61:

 

 

 

Mục lục Chơn lý do máy in Pháp Ấn in đợt thứ 2 có 61 quyển.

(Đính kèm bìa ngoài có ghi rõ đợt in.)

 

 

 

Đến đợt in thứ 3 của máy in Pháp Ấn đã có quyển Chơn lý 69 – Pháp Học Sa-di III. Như vậy là 8 Chơn lý cuối đã được viết trong khoảng 1 tháng rưỡi, từ 30/12/1953 đến 15/2/1954. Sau lần mua giấy in kỳ thứ 3 hơn nửa tháng, vào ngày 5/3/1954, Sư trưởng Minh Đăng Quang đã lên núi lửa tịnh tu đến nay vẫn chưa về lại giáo hội…

 

 

 

Bìa quyển Chơn lý cuối cùng, khởi in ngày rằm tháng giêng năm Giáp Ngọ 1954.

(Cuối quyển có 2 chữ CÒN TIẾP, vậy lúc đó mọi người nghĩ là Sư trưởng Minh Đăng Quang sẽ còn viết tiếp.)

 

 

 Những năm 1954, 1955, 1956 trở đi,69 quyển Chơn lýcủa khất sĩ Minh Đăng Quang tiếp tục được tái bản từng quyển riêng và với số lượng lớn, tùy theo sự phát tâm cúng dường tiền và công sức của Phật tử hộ pháp. Lúc này vẫn không có quyển nào để tên tác giả, dù ngoài bìa hay trong ruột.[2]

 

Đến năm 1961, lần đầu tiên 69 quyển Chơn lý đã được in kết tập lại thành một bộ, lấy tên chung là Chơn Lý, tên tác giả là Đại đức Minh Đăng Quang[3]. Những năm sau đó bộ Chơn Lý lại được tái bản thành 5 tập, 2 tập… Đầu năm 1972[4], Giáo hội Tăng-già Khất Sĩ Việt Nam cho in 9 bài Chơn lý thường dụng thành quyển Luật Nghi Khất Sĩ. Sau Giải phóng, đến năm 1993, Hội đồng Giáo phẩm Hệ phái Khất Sĩ đã tái bản hai bộ sách Chơn LýLuật Nghi Khất Sĩ, từ đây Chơn Lý chỉ còn 60 bài. Năm 1998, Chơn LýLuật Nghi Khất Sĩ lại được tái bản. Qua năm 2004, lần đầu tiên Chơn Lý đã được chư Tăng hiệu đính và tái bản thành 3 tập, chia đều mỗi tập 20 bài. Đến năm 2009 là lần tái bản mới nhất. Nếu khảo cứu văn bản bộ Chơn Lý, ta có thể dựa vào ba bộ in năm 1961, 1993 và 2009, với những ký hiệu tạm cho ba bộ sách này là: CL.61, CL.93CL.09.

 

 

  

 

Ba bộ CL.61, CL.93 và CL.04. (sẽ bổ xung hình CL.09 sau)

 

 

Công tác giảng giải các bài Chơn lý xưa nay thường được giới Tăng, Ni Khất Sĩ thực hiện, để ứng dụng tu học hàng ngày. Riêng việc nghiên cứu, phân tích hoặc viết về bộ Chơn Lý thì tình hình là hơi hiếm trong suốt mấy chục năm, chỉ đến khoảng 10 năm gần đây là chú trọng hơn. Ta có thể điểm qua tình hình như sau:

 

– Năm 1961, tác giả Hàn Ôn cho xuất bản một quyển khảo cứu Đạo Phật Khất Sĩ Việt Nam với tên là Minh Đăng Quang Pháp Giáo. Đây là quyển sách đầu tiên viết về Đạo Phật Khất Sĩ, trong đó có nhiều trích dẫn từ các Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang.

 

– Năm 1971, khi tái bản bộ Chơn Lý, thượng tọa Giác Nhiên – Tổng Tri sự Trưởng của Giáo hội Tăng-già Khất Sĩ Việt Nam đã viết một bài giới thiệu để in đầu sách. Trong bài này, ngoài lời giới thiệu về hạnh nguyện của đức Tổ sư Minh Đăng Quang và công tác ấn tống kinh sách, ngài Giác Nhiên có nhận định sơ lược về giá trị của bộ Chơn Lý là then chốt của kho tàng trí tuệ vô cùng tận, mà chỉ có bậc Phật mới có chìa khóa ấy.

 

– Năm 1982, Ni sư Huỳnh Liên trong vai trò là trưởng một đoàn Ni Khất Sĩ đã viết 60 bài Kệ Chơn Lý, mục đích tóm tắt 60 Chơn lý của Tổ sư Minh Đăng Quang cho các sư cô đệ tử học. Nhưng việc này là bất khả thi, khi chỉ dùng một pháp cú để tóm tắt mỗi bài Chơn lýđa phần có phạm trù nội dung rất rộng. Thật sự là Ni sư Huỳnh Liên đã tóm tắt không thành công, nội dung và tư tưởng các bài Kệ Chơn Lý chưa phải là tinh yếu của nguyên tác tương ứng trong Chơn Lý. Ni sư Huỳnh Liên đã có tham vọng lớn nên chọn thể tài sáng tác không phù hợp. Nếu muốn tóm tắt các bài Chơn lý thì nên linh động viết thành vài ba pháp cú đối với những bài đơn giản như Con Sư Tử, Vị Hung Thần… còn với hầu hết các Chơn lý khác nên tóm tắt ở dạng kệ trùng tụng thì chắc sẽ thành công.

 

– Năm 1993, Tỳ-kheo Giác Toàn thay mặt Hội đồng Giáo phẩm Hệ phái Khất Sĩ viết lời cẩn bạch nhân dịp in lại bộ Chơn Lý. Trong bài viết này, tác giả đã lược nêu các mảng nội dung lớn của bộ Chơn Lý: khái quát về nguồn gốc con người, triết lý con người và thiên nhiên, đời sống đạo đức, quan điểm xây dựng gia đình xã hội hạnh phúc, pháp môn tu tập để chứng đạo, mối liên hệ giữa các tông phái, giới luật, pháp học căn bản, tư tưởng Đại thừa...

 

– Năm 1995, Lê Trung Trực, một mục sư của Hội Thánh Siêu Hình Học Quốc Tế, viết Tìm Hiểu Chơn Lý Tổ Sư Minh Đăng Quang, một quyển sách luận về các điểm đặc sắc của Chơn Lý qua tầm nhìn của một tiến sĩ thần học. (Tác giả đã dùng nhiều quan điểm “ngoại đạo” như Nhất nguyên, Nhị nguyên, Thuyết tiến hóa, Thuyết tương đối, Điển quang biện chứng pháp, Luân xa, Không gian 4 chiều, Duy vật, Vô sản, Siêu vật lý, Siêu tâm lý, Siêu thức… để lập luận.) Ngoài quyển này, chưa có quyển nào tập trung viết về bộ Chơn Lý như thế.Nhưng hiện nay quyển này không được phép phổ biến ở Việt Nam nữa.

 

 

 

Hai quyển của Lê Trung Trực và Thích Giác Trí

(Bản lưu của Thư viện Tịnh xá Trung Tâm – quận Bình Thạnh)

 

 

– Năm 2001, Thích Giác Trí (Nguyễn Văn Hào) viết luận văn tốt nghiệp Học viện Phật giáo Việt Nam với đề tài là Sự Hình Thành Và Phát Triển Của Hệ Phái Khất Sĩ. Luận văn này dài trên 20 trang A4 và thêm phần phụ lục gấp ba phần chính. Theo dàn bài nghiên cứu của luận văn, tác giả đã không xoáy sâu vào bộ Chơn Lý.

 

– Năm 2004, Hệ phái Khất Sĩ bắt đầu tổ chức các khóa Bồi dưỡng Trụ trì vào mỗi đầu mùa An cư chuyên tu, để bồi dưỡng chuyên môn quản trị cho quý Tăng, Ni đang quản lý các cơ sở của Hệ phái. Qua hơn 10 khóa bồi dưỡng, các chuyên đề cần thiết cho công tác trụ trì tịnh xá đã được triển khai, trong đó dĩ nhiên là có nhiều chuyên đề về bộ Chơn Lý. Tuy vậy, những bài giảng trong các khóa này đã chưa được bộ phận thư ký biên tập lại thành văn bản.

 

– Năm 2007, Thích Hạnh Thành cho ra mắt quyển Tìm Hiểu Phật Giáo Khất Sĩ Ở Nam Bộ Việt Nam. Quyển này tuy mỏng nhưng bố cục rộng và viết về khắp các nhánh Khất Sĩ ở Nam bộ Việt Nam theo nhận định của tác giả, (chưa được khách quan). Do bố cục rộng nên sách này chỉ có 7 trang (A5) viết về bộ Chơn Lý, xem ra có phần qua loa. Đặc biệt là có ít nhất 1 điều tác giả này đã trích dẫn Chơn Lý nhưng không rõ từ chỗ nào: “Căn cứ theo bộ Chơn Lýthì năm 1946 ngài thọ giới tại chùa Linh Bửu, làng Phú Mỹ, tỉnh Mỹ Tho.” (tr.34)[5]; và có thêm ít nhất 1 điều cho thấy tác giả này đã suy diễn vô trách nhiệm: “Những bài giảng pháp của ngài từ năm 1947 đến năm 1954 đã được các đệ tử thu băng và ghi chép thành những quyển sách nhỏ.” (tr.75)…

 

– Đến mùa Phật đản năm 2008, Hệ phái Khất Sĩ tiến hành làm Nội san Đuốc Sen, nhằm đẩy mạnh công tác văn hóa Phật giáo Khất Sĩ, chú trọng triển khai và phổ biến đường lối giáo lý Khất Sĩ biệt truyền (so với Bắc truyền và Nam truyền, so với tất cả các đạo giáo khác, so với mọi đường lối của nhân loại). Qua hơn 20 số đã xuất bản, Đuốc Sen đã có một số bài viết giá trị về tác phẩm của Tổ sư, với những cây bút chủ lực của Ph.D Minh Thành, KS. Minh Bình, NS. Tuyết Liên, Thích Nữ Trí Liên…

 

 

 

Các ấn phẩm Đuốc Sen, khổ gần bằng tờ A4, dày hơn trăm trang, in màu.

(Bìa 1 của quyển số 001 có mấy trích dẫn sai: “Cái biết thì phải biết chung”)

 

 

– Năm 2009, thượng tọa Giác Năng ở Tịnh xá Ngọc Nam – Phi Nôm đã cố gắng rút gọn bộ Chơn Lý, bằng cách cắt bớt những đoạn văn trong mỗi bài. Công trình này đã xong bản thảo và có lẽ tác giả sẽ không cho phổ biến.

 

– Năm 2011, Nhà xuất bản Phương Đông xuất bản tác phẩm Tìm Hiểu Về Hệ Phái Khất Sĩ của Thích Giác Duyên. Đây là tác phẩm chính thức viết về Đạo Phật Khất Sĩ đã được xuất bản ở Việt Nam[6], sau quyển của Hàn Ôn 50 năm. Trong quyển Tìm Hiểu Về Hệ Phái Khất Sĩ chỉ có khoảng 10 trang (A5) viết về bộ Chơn Lý, với 6 phần nội dung, như cách Tỳ-kheo Giác Toàn nhận định vào năm 1993…

 

– Đến đầu năm 2014, quyển Tìm Hiểu Về Hệ Phái Khất Sĩ được tác giả cho tái bản, có sửa chữa và bổ xung, đổi tên sách là Hệ Phái Khất Sĩ 70 Năm Hình Thành Và Phát Triển, xuất bản bởi Nhà xuất bản Tôn Giáo. Phần viết về bộ Chơn Lý cũng tương tự như cũ.

 

 

 

Hai quyển sách của tác giả Thích Giác Duyên

 

 

– Đặc biệt, vào Lễ tưởng niệm 60 năm đức Tổ sư Minh Đăng Quang vắng bóng, nhân dịp Hệ phái Khất Sĩ phối hợp với Viện nghiên cứu Tôn giáo và Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam tổ chức một hội thảo khoa học với chủ đề “Hệ phái Khất Sĩ: quá trình hình thành, phát triển và hội nhập”, đã có nhiều cây bút của giới Tăng, Ni, Phật tử, cùng hàng học giả, trí thức Việt Nam tham gia viết bài. Đây là những bài đã viết về bộ Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang để tham dự hội thảo khoa học về Hệ phái Khất Sĩ vào tháng 2 năm 2014:

 

1. Tinh thần Bồ-tát đạo của Tổ sư Minh Đăng Quang (HT. Minh Hồi)

 

2. Soi chiếu 5 điểm Chơn Lý vào kinh tạng Nikaya (TT. Minh Thành)

 

3. Ý nghĩa của “Sống chung” trong giáo lý của Tổ sư Minh Đăng Quang (TT. Nguyên Thành)

 

4. Tư tưởng Phật học của Tổ sư Minh Đăng Quang trong bộ Chơn Lý (TT. Huệ Thông)

 

5. Giới luật Khất Sĩ (KS. Minh Bình)

 

6. Ý nghĩa cách dùng từ trong một số quyển Chơn Lý (Minh Điệp)

 

7. Khất sĩ và lý Duyên sinh (Hạnh Thường)

 

8. Tư tưởng Phật học của Tổ sư Minh Đăng Quang trong bộ Chơn Lý (NT. Hiếu Liên)

 

9. Tinh thần Trung đạo trong bộ Chơn Lý (NS. Tuyết Liên)

 

10. Nghiên cứu tư tưởng Phật tánh trong Chơn Lý của đức Tổ sư Minh Đăng Quang (NS. Tuệ Liên)

 

11. Tinh thần khế lý, khế cơ trong Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang (SC. Thoại Liên)

 

12. Sự tích hợp Nam tông và Bắc tông trong giáo lý của Phật giáo Khất Sĩ qua bộ kinh Chơn Lý của Tổ sư Minh Đăng Quang (PGS. Phan Thị Thu Hiền)

 

13. Phân tích một số quan niệm của phái Khất Sĩ về sở hữu và đạo đức (TS. Nguyễn Hữu Nguyên)

 

14. Tìm hiểu tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy trong bộ Chơn Lý (Nguyễn Hữu Việt)

 

 

 

Hội thảo khoa học về Hệ phái Khất Sĩ vào ngày 25 tháng 2 năm 2014

 

 

– Từ thành công khả quan của hội thảo trên[7], hai tháng rưỡi sau, Hệ phái Khất Sĩ đã tiếp tục lấy chủ đề chính cho khóa Bồi dưỡng Trụ trì năm 2014 là “Tư tưởng Phật giáo Nguyên thủy trong bộ Chơn Lý”. Theo chủ đề đã chọn, quý ngài giáo thọ của khóa bồi dưỡng đã mặc định Phật giáo Nguyên thủy là Phật giáo Nam truyền, từ đó phân tích, diễn giải[8]... Như vậy, việc này đã đi chệch tông chỉ của Đạo Phật Khất Sĩ là nêu cao Chánh pháp Thích-ca, xóa bỏ những ranh giới cục bộ và kỳ thị của những định kiến Nam, Bắc linh tinh, đã kéo dài cả thiên niên kỷ qua trong ngôi nhà Phật giáo thế giới. Ý kiến sai tông chỉ này đã được một vị khất sĩ viết giấy gởi Ban Thư ký để đặt nghi vấn với quý vị giáo thọ, nhưng rất tiếc là một vị hòa thượng chủ tọa hôm đó đã vội khẳng định trước đại chúng rằng “Không có sai tông chỉ”, rồi không đưa ra thảo luận!

 

 

Để hoàn thành một bài giới thiệu đầy đủ về Phật giáo Khất Sĩ, cho mọi người thấy được rõ ràng về mọi mặt của nền Phật giáo này qua hơn 65 năm hình thành và phát triển, cần phải đầu tư nghiên cứu toàn diện. Trong đó, Khảo cứu bộ Chơn Lý là một chương không thể thiếu. Đây là nhân duyên hình thành bài viết này. Hy vọng người viết sẽ làm được một việc rất cần phải làm!

 

Có một điều xin lưu ý: Đức Minh Đăng Quang là một bậc Tổ sư đã sáng lập Phật giáo Khất Sĩ, như sứ mạng và sự nghiệp vĩ đại của ngài. Nhưng đối với bộ Chơn Lý thì ngài là tác giả, tự xưng bình dị là Minh Đăng Quang khất sĩ, (trong khi lại tự xưng là “Pháp vương Minh Đăng Quang – Nhiên Đăng thượng cổ Phật – Giáo chủ cõi Ta-bà” nơi tác phẩm Bồ-tát Giáo). Vậy tuy tác giả là một bậc Tổ sư, một bậc cổ Phật giáo chủ, nhưng trong những phần dưới của bài khảo cứu này vẫn thống nhất gọi tác giả bộ Chơn Lý là khất sĩ Minh Đăng Quang, xin mọi người lưu ý.

 

 

 

        II. TÌM HIỂU PHẦN DIỄN GIẢI NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC CÁC ẤN PHẨM CHƠN LÝ:

 

Xem qua 69 quyển Chơn lý của khất sĩ Minh Đăng Quang, ta nhận thấy sơ bộ một số điều sau:

 

1. Nhận xét:

 

a. Phần diễn giải nội dung :

 

Đây là phần của khất sĩ Minh Đăng Quang, tác giả bộ sách Chơn Lý, quyết định. Đối với một tác phẩm bất kỳ nào, hàng học giả cũng đều có quyền có ý kiến nhận định, phê bình… nhưng tuyệt nhiên không ai được quyền thay đổi tác phẩm của người khác. Hiện nay, ở Việt Nam đã có một việc đáng tiếc xảy ra là các tác phẩm của ông Đoàn Trung Còn tái bản sau năm 1990 đã bị biến dạng, hoặc bị thay đổi hoàn toàn nội dung bên trong. Việc này liên hệ đến ông Nguyễn Minh Tiến và nhà sách Quang Minh. Chúng ta nên lưu ý, để khi cần tìm một quyển sách gốc của ông Đoàn Trung Còn thì ta phải tìm những quyển được xuất bản trước năm 1975. Chính việc xuất bản sách kiếm tiền đã làm cho nhiều tác phẩm bị chế lại, thay bìa, xáo trộn nội dung... Như tác phẩm Truyện Tranh Thiền của tác giả Sái Chí Trung người Trung Quốc vốn thật độc đáo, mà gia đình Phật tử Ngộ Đạo đã vô cùng tán thán nơi trang đầu về thể tài sáng tác và phương thức trình bày của tác phẩm, rằng nó đã giúp cho bao người có thể dễ dàng tiến vào rừng Pháp bảo! Nhưng đó là qua sự dịch thuật của Thích Trí Châu. Đến năm 1999, Phạm Cao Hoàn đã biên dịch tác phẩm này, đổi tên là Góp Nhặt Cát Đá (bị trùng tên), bỏ bài giới thiệu về Thiền của hòa thượng Thánh Nghiêm thay cho lời tựa ở phần đầu sách, thay đổi nhiều lời thoại trong truyện và lời bình ở cuối mỗi truyện, dịch hơi kỳ như “Tinh thần lửa tìm lửa” thay cho “Thần lửa tìm lửa”, “Ngọn gió thiền của Triệu Châu” thay cho “Thiền phong của Triệu Châu”… Hay như từ một công trình nghiên cứu của Haiyan Shen, Từ Hoa đã dịch ra Việt ngữ với tên sách là Pháp Hoa Huyền NghĩaPhật Học Thiên Thai Tông. Tác phẩm này đã được nhà xuất bản Phương Đông để tên tác giả nơi đầu bìa trước là Trí Khải Đại Sư, đã làm cho nhiều người lầm nên liền vội bỏ ra 160.000 để mua, do sự sùng mộ vị Tổ sư sáng lập tông Thiên Thai của Phật giáo Trung Quốc… Xem qua những việc không tích cực này, ta chỉ còn biết tự nhắc mình phải thật thận trọng khi đi sưu tầm tác phẩm và ta sẽ không bao giờ chế lại bộ sách của khất sĩ Minh Đăng Quang, nếu cần thiết thì ta có ngại gì mà không viết ra thật nhiều sách để bàn về bộ Chơn Lý

 

Xem 69 quyển Chơn lý, ta thấy sách này đã có những dạng văn như: kinh văn xuôi, kinh kệ tụng, liệt kê pháp số, trình bày điều luật, luận giải pháp lý, vấn đáp, cáo bạch, nêu thí dụ trong đạo ngoài đời, mô tả cảnh lý tưởng, khuyến khích người tu hành… Như vậy, văn thể của bộ sách này thật đa dạng. Còn ngôn ngữ của Chơn Lý thì thật phong phú, rất bình dân mà cũng rất bác học, lời lẽ triết lý sâu sắc, văn khí từ tốn ôn hòa và dạt dào như dòng Cửu Long giang…

 

Như mọi người đã biết, thời của khất sĩ Minh Đăng Quang là vào tiền bán thế kỷ XX, nên tác giả còn sử dụng một số từ ngữ mà ngày nay ít ai dùng như: vía dại, xẩn bẩn, vải bô, chưởng trí huệ, nung hậu, tố thực, lùa ví, bông lông, nọc bệnh, tầm tỏi, trời chinh xế, móng dục, đâu lại, học trò khó, cong vạy, lếu rộn, sự mai dong, minh mông, kêu la bồi hồi, chết sựng, trối mặc, côn loại

 

Ngài đã sáng tạo rất nhiều từ ngữ để thuyết minh những ý tưởng của mình như: không không tuyệt đối, gia đình cỏn con, thần quyền chúa tể, nhỏ nhoi số ít, thanh nhàn yên lặng, chốn biển ô danh lợi, giáo danh từ, nuôi chơn như bản tánh, bỏ khổ tìm vui, trình độ cỡ trí, nhiễm ô bùn bụi, nói cãi cao kỳ, tình tự vay trói, địa ngục ích kỷ, không không, có có, không gian không sở trụ, đời đời vĩnh viễn, nhơn loại ácthiên đường thiệnNiết-bàn chơn như, ngũ định, chúa tể võ trụ, bậc già kinh nghiệm, vi trùng nữ, vi trùng nam, rún đạo, sống – biết – linh

 

Ngài triển khai nhiều từ ngữ với tính triết học sâu sắc như: trẻ con người lớnông già, ngườitrờiPhật, thân địa ngục trí thiên đườngtâm Niết-bàn, ácthiệnchơn, vỏhoa tráihột, công lý võ trụ, chơn phước cực đại, siêu nhơn loại, tánh thủy, ba lớp giáo lý, chơn lý đại đồng, khất sĩ

 

Ngài đã dùng nhiều thành ngữ Hán–Việt như: Hoạnh tài bất phú, Cơ thâm họa diệc thâm, Hữu phước bất khả hưởng tận, Hữu thế bất khả ỷ tận, Tọa thực sơn băng, Tiên trách kỷ hậu trách nhơn, Trọng nghĩa khinh tài, Xuân bất tái lai, Dưỡng lão khất ngôn, Tứ tung ngũ hoành, Tràng giang đại hải, Tế khổn phò nguy, Công thành thân thối, Kinh tâm tán đởm, Văn thiện ngôn tắc bái, kiến thiện sĩ tắc cung; Giáo bất nghiêm sư chi đọa,Tiên học lễ hậu học văn

 

Ngài cũng dùng nhiều từ rất bình dân như: đã khátlấm lemloay hoaylộn ruộtđiên đầusanh lứa đẻ bầyổngdư dảnát nhừlọi cẳngxẩn bẩn là cà nhột nhạtnhỏng nhẻo làm nưcù létlùa ví hét latôi mọithơm phức, lôi tuốt

 

Ngài đã dùng những từ thuộc về phương ngữ Nam bộ như:

 

–    Huờn (là hoàn)

–    Nguơn (là nguyên)

–    Huê (là hoa)

–    Sanh (là sinh)

–    Nhóng trồi (là nhớm trồi lên)

–    Quến (là rủ rê,cuốn lôi)

–    Thiệt (là thật)

–    Hạp (là hợp)

–    Thạnh (là thịnh)

–    Dòm (là nhìn,ngó,xem)

–    Võ trụ (là vũ trụ)

–    Yến sáng (là ánh sáng)

–    Được mợi (là được nước, được trớn)

–    Chưn (là cái chân)

–    Đờn (là đàn)

–    Quyền quới (là quyền quý)

–    Chánh (là chính)

–    Tánh (là tính)

–    Bửu (là bảo)

–    Ròng (là chuyên, toàn)

–    Đặng (là được, để)

–    Thờ phượng (là thờ phụng)

–    Lèo (là nước Lào)…

 

b. Phần hình thức trình bày:

 

Các phong cách tiếng Việt thời hiện đại đã được thể hiện trong các bộ Chơn Lý. Khi chữ quốc ngữ La-tinh mới được phổ biến ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, các từ Hán-Việt như gia-đình, xã-hội…đều được gạch nối. Ngày nay phong cách này đã bỏ. Đối với các từ phiên âm như Thích-ca, A-di-đà… thì phải gạch nối để biết đó là từ phiên âm và chỉ viết hoa chữ đầu nếu đó là danh từ riêng; nhưng có nhiều sách vẫn quen ghi là Thích Ca, A Di Đà… có lẽ vì cảm thấy viết hoa nhiều thì trang trọng hơn và gạch nối giữa các từ thì dư.

 

Có một số từ trước đây thường dùng ư, nay dùng â như: chưnchân, nhứtnhất, nhựtnhật, vừngvầng, dưngdâng, từngtầng, bựcbậc

 

Cũng có nhiều từ thường dùng lẫn lộn giữa ơâ như: chơnchân, nhơnnhân… Những trường hợp này ta nên thống nhất chọn một dạng, riêng Chơn Lý thì cứ để nguyên, vì đã thành tên bộ sách như thế rồi. Do ngoài bìa để nguyên nên bên trong các từ chơn thật, chơn như, chơn lý… đều để đồng dạng chơn hết.

 

Trước đây các dấu câu thường để cách ký tự cuối trước nó, nay đã để sát theo thông dụng.

 

Các chữ vân vân “.v.v.” ngày nay ít dùng, chỉ dùng dấu “…” là mọi người hiểu, nhưng có khi vẫn dùng để nhấn mạnh, khi đó sẽ viết là “v.v...”.

 

Các mục và các tiêu đề của các bài Chơn lý trình bày thường không đồng dạng. Đây cũng là một nét riêng của bộ Chơn Lý. Nếu cần thì chúng ta sẽ sửa…

 

 

2. Về ba bộ Chơn Lý CL.61, CL.93 và CL.09 đã xuất bản:

 

        a. CL.09 đã cắt bỏ hai đoạn trong bài Sanh Và Tử, gồm hơn 10 dòng, chỗ vấn đáp 20c và 20d. Điều này trên nguyên tắc nghiên cứu văn bản là không được chấp nhận. Không rõ vì lý do gì về phía nhà xuất bản mà phải bỏ như vậy?

 

        b. CL.93 có hai trang bị đảo nhau khi đổ khung, đó là trang 495 và 496, thuộc bài Hột Giống. Những ai đã từng làm công việc dàn trang cho sách thì dễ phát hiện ra lỗi này. CL.09 đến đoạn văn bản này đã biên tập lại cho hợp lý, thay vì đảo lại 2 trang, dẫn đến kết quả là làm biến dạng luôn phần văn bản gốc.

 

        c. CL.09 đã đóng bìa sách trang trọng, nhưng dùng chữ in nhũ vàng hơi lợt trên nền simili màu đất nâu đen trông rất tối. Trong ruột CL.09 đã in chèn thêm nhiều hình mà có lẽ nên chọn kỹ hơn. Hai hàng chữ trên cùng ở bìa trước của CL.09 có lẽ là dư:

 

GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM

HỆ PHÁI KHẤT SĨ

 

Thông thường, chỗ này chỉ để tên tác giả. Chơn Lý do khất sĩ Minh Đăng Quang viết, khác với kinh Phật do Tăng-già biên tập lại lời Phật dạy sau mấy trăm năm.

 

        d. Bìa trước của các bộ Chơn Lý đều không có tên tác giả và những lần in sau này đã bỏ mất biểu tượng ngọn đuốc trên hoa sen. Đây là hai điều thiếu sót.

 

        e. CL.61 là một tập gồm 70 bài (phần Kinh Tam Bảo được xem là một bài riêng, bài thứ 70), đến CL.93 là một tập gồm 60 bài, và CL.09 là ba tập với mỗi tập có 20 bài.

 

        f. CL.61 có nhiều lỗi chính tả, CL.93 có rất nhiều lỗi chính tả, còn CL.09 có ít lỗi chính tả.

 

        g. Sau khi đã được tách thành 2 bộ từ năm 1993, số thứ tự của các bài Chơn lý chỉ được sắp trong phạm vi 60 số. Điều này không đúng, vì bộ Chơn Lý vốn có 69 bài nên phạm vi thứ tự phải gồm 69 số. Có lẽ chúng ta nên vẫn nêu tên những bài nào đã được chuyển qua Luật Nghi Khất Sĩ, trong một trang khi đến thứ tự của bài đó. Đồng thời có thể nêu kèm dàn bài chi tiết của bài đó luôn, để người đọc nắm được đại ý, trong khi chưa đọc qua quyển Luật Nghi Khất Sĩ. Và dĩ nhiên phần mục lục cũng phải nêu đủ 69 bài Chơn lý.

 

        h. Lại có ý kiến cho rằng: Luật Nghi Khất Sĩ nên cắt bớt 2 bài về Định và Huệ, rồi bổ xung những bài phân tích về giới luật cùng những quy định của Hệ phái Khất Sĩ vào, để dần dần nó thành một bộ luật Khất Sĩ, đồng đẳng với 6 bộ luật Phật giáo hiện nay trên thế giới; còn Chơn Lý vẫn in đủ trọn bộ 69 bài như xưa. Ý kiến này rất hay, có tầm nhìn xa trông rộng.

 

        i. Sau đây là thứ tự 69 bài Chơn lý trình bày theo CL.61, chín số in đậm là chín bài đã được chọn in thành Luật Nghi Khất Sĩ vào năm 1972:

 

01. Võ Trụ Quan

02. Ngũ Uẩn

03. Lục Căn

04. Thập Nhị Nhân Duyên

05. Bát Chánh Đạo

06. Có Và Không

07. Sanh Và Tử

08. Nam Và Nữ

09. Chánh Đẳng Chánh Giác

10. Công Lý Võ Trụ

11. Luật Khất Sĩ

12. Khất Sĩ

13. Y Bát Chơn Truyền

14. Giới Bổn Tăng

15. Giới Bổn Ni

16. Ăn Chay

17. Nhập Định

18. Bài Học Khất Sĩ

19. Bài Học Cư Sĩ

20. Cư Sĩ (Giáo Hội Tăng-già)

21. Tâm

22. Tánh Thủy

23. Học Chơn Lý

24. Trên Mặt Nước

25. Chánh Pháp

26. Chánh Kiến

27. Tam Giáo

28. Tông Giáo

29. Thần Mật

30. Giác Ngộ

31. Khuyến Tu

32. Đi Tu

33. Ăn Và Sống

34. Chư Phật

35. Hột Giống

36. Sợ Tội Lỗi

37. Trường Đạo Lý

38. Nguồn Đạo Lý

39. Con Sư Tử

40. Đi Học

41. Đời Đạo Đức

42. Đại Thừa Giáo

43. Xứ Thiên Đường

44. Vị Hung Thần

45. Phật Tánh

46. Học Để Tu

47. Đạo Phật

48. Tu Và Nghiệp

49. Pháp Tạng

50. Vô Lượng Cam Lộ

51. Quán Thế Âm

52. Đại Thái Thức

53. Địa Tạng

54. Pháp Hoa

55. Giới Phật Tử

56. Thờ Phượng

57. Pháp Chánh Giác

58. Số Tức Quan

59. Sám Hối

60. Chơn Như

61. Hòa Bình (Đoàn Du Tăng)

62. Lễ Giáo

63. Đạo Phật Khất Sĩ

64. Khổ Và Vui

65. Bài Học Sa-di

66. Pháp Học Cư Sĩ

67. Pháp Học Sa-di I (Kệ Giới)

68. Pháp Học Sa-di II (Diệt Lòng Ham Muốn)

69. Pháp Học Sa-di III (Pháp Vi Tế)

 

Thứ tự 69 Chơn lý nên giữ nguyên như trên, vì trong bài Y Bát Chơn Truyền, ngài Minh Đăng Quang đã có viết như sau: “Hãy nghiên cứu Võ Trụ Quan, Ngũ Uẩn, Lục Căn – Lục Trần – Lục Thức, Thập Nhị Nhơn Duyên, Bát Chánh Đạo, Thuyết Có Thuyết Không, Sanh Và Tử, Nhân Sanh Quan, Chánh Đẳng Chánh Giác, Công Lý Võ Trụ. Có nghiên cứu mười quyển sách chơn lý ấy trước đã, thì tất hiểu đạo, sau đó hãy hiểu chơn lý Khất Sĩ, Y Bát Chơn Truyền, Luật Khất Sĩ, Giới Bổn, Ăn Chay, Nhập Định và Giới, Định, Huệ v.v...”. Rõ ràng tác giả bộ Chơn Lý đã có chủ ý sắp xếp thứ tự các bài viết của mình, điều này cần được tôn trọng.

 

Với hơn 394.000 từ, Chơn Lý là một bộ sách bề thế, trong khi bộ Kinh Lăng-nghiêm chỉ có hơn 57.000 từ, còn bộ Kinh Pháp Hoa có hơn 68.000 từ. Do khâu biên tập chưa được kỹ lưỡng mà các bộ Chơn Lý trước đây đều chưa trọn vẹn về mặt trình bày, nhưng hình thức chung của nó chắc đã đáp ứng được nhu cầu của giới đọc giả bình dân. Tạm thời, cần sửa lại 2 đoạn bị cắt bỏ, 2 trang bị đảo nhau và mục lục cho đủ 69 quyển, sau đó phải hoàn bị thêm một số chỗ đã ghi nhận ở trên…

 

 

(Còn tiếp)

 


 

[1] 72.000 : 69 = 1.043, số lượng này không đủ phát cho mọi người xem.

 

[2] Chắc cũng do bên Nha Thông tin Nam Việt không có yêu cầu.

 

[3] Đại đức là đức lớn hơn hết, không phải như danh xưng hành chánh ngày nay.

 

[4] Mùa Xuân năm Nhâm Tý – PL. 2516 là năm 1972. Bìa sách để kèm lịch Tây 1973 là sai.

 

[5] Chính thông tin vớ vẩn này đã được liên tưởng thành: Tổ sư Minh Đăng Quang y chỉ theo hòa thượng Đoàn Ngọc Đê trụ trì chùa Linh Bửu để thọ giới!? Cho nên Hàn Ôn bảo Tổ sư thọ giới này nọ ở Linh Bửu Tự là không đúng và sẽ dẫn đến nhiều chuyện không hay. Một đức cổ Phật giáng thế đâu cần thủ tục như hàng phàm Tăng! Trong bài Nguồn Khất Sĩ Nam Việt, ngài Minh Đăng Quang chỉ nói là năm 1946 về Mỹ Tho thật hành giới luật Tăng đồ thôi…

 

[6] Nhưng còn hạn chế…

 

[7] Hội thảo bị khống chế về mặt thời gian, chỉ có một ngày làm việc. Nếu làm đầy đủ phải cần ít nhất 10 ngày.

 

[8] Nam truyền cũng chưa phải là nguyên thủy của Phật giáo. Theo tư tưởng Minh Đăng Quang, nguyên thủy của Phật giáo là đạo của vũ trụ, là đạo của tất cả chúng sanh, chỉ tạm gọi là Đạo Phật, nói gì đến Nam truyền hay Bắc truyền...